Dân cư xã Tà Đùng hôm nay là kết quả của nhiều đợt người đến nối nhau: trước hết là đồng bào M'Nông, Mạ sống từ lâu trên thượng nguồn sông Đồng Nai; rồi người Kinh khai hoang; rồi làn sóng đồng bào các dân tộc phía Bắc vào tìm đất từ cuối thập niên 1980, đông nhất trong thập niên 1990; rồi những thay đổi do hồ thủy điện Đồng Nai 3; và gần đây là người thành phố lên theo cảnh hồ.
Bài này dựng lại dòng thời gian ấy theo kiểu địa chí, chỉ dùng những mốc đã được ghi nhận rộng rãi về vùng Đắk Glong cũ. Không có số hộ, số khẩu của từng đợt, vì số liệu đó nằm rải rác trong hồ sơ địa phương và không thống nhất. Điều bạn có được sau khi đọc là hiểu vì sao trong một xã lại có nhiều giọng nói, nhiều nếp nhà như vậy.
Dòng thời gian dân cư vùng Tà Đùng
Các mốc dưới đây gom theo giai đoạn. Mốc hành chính lấy theo các văn bản đã công bố; mốc di dân chỉ ghi theo thập niên vì mỗi thôn có lịch sử riêng.
- Từ xa xưa: đồng bào M'Nông, Mạ cư trú trong các thung lũng, ven suối thuộc lưu vực thượng nguồn sông Đồng Nai, làm rẫy luân canh, săn bắt, hái lượm.
- Trước 1975: vùng này thuộc tỉnh Quảng Đức thời Việt Nam Cộng hoà; dân cư thưa, chủ yếu là bon làng bản địa, có một số điểm định cư dọc đường.
- Sau 1975 đến thập niên 1980: vùng đất thuộc tỉnh Đắk Lắk; các chương trình định canh định cư cho đồng bào bản địa, các nông trường, lâm trường và lớp người Kinh khai hoang đầu tiên.
- Cuối thập niên 1980 và thập niên 1990: làn sóng đồng bào Mông, Dao, Tày, Nùng từ các tỉnh miền núi phía Bắc vào tìm đất, phần lớn là di cư tự do theo họ hàng.
- 2004–2005: tỉnh Đắk Nông được tách ra (2004), huyện Đắk Glong được lập (2005); Đắk Som, Đắk R'Măng là xã của huyện mới.
- Khoảng đầu những năm 2010: hồ thủy điện Đồng Nai 3 tích nước, một số hộ trong vùng ngập phải dời chỗ ở; mép hồ mới thành nơi sinh sống, làm cá.
- Từ cuối những năm 2010: cảnh hồ nhiều đảo được biết đến rộng rãi, người thành phố lên mua vườn, mở dịch vụ lưu trú và đưa khách.
- Ngày 1/7/2025: Đắk Som và Đắk R'Măng nhập thành xã Tà Đùng, tỉnh Đắk Nông nhập vào tỉnh Lâm Đồng, cấp huyện không còn.
Dòng thời gian này dùng để định hướng. Lịch sử từng thôn cụ thể nên hỏi già làng, trưởng thôn hoặc những hộ đến sớm nhất.
Cư dân bản địa và những lần dời làng
Đồng bào M'Nông, Mạ không phải là “người đến” mà là chủ cũ của vùng đất. Nhưng chính họ cũng đã trải qua nhiều lần dời chỗ ở trong vài chục năm qua. Rẫy luân canh truyền thống buộc làng di chuyển theo chu kỳ đất; sau đó là các chương trình định canh định cư gom bon về những khu tập trung gần đường; rồi đến lúc có hồ thủy điện, một số khu ven sông lại phải dời lần nữa.
Mỗi lần dời là một lần thay đổi cách sống: từ nhà gỗ trong rừng sang nhà xây theo dự án, từ rẫy lúa sang vườn cà phê, từ nước suối sang giếng và nước máy. Những người lớn tuổi trong bon thường nhớ rõ tên các chỗ ở cũ, tên các con suối nay đã thành lòng hồ. Đó là phần lịch sử dân cư mà số liệu không ghi được.
Với người làm công việc cộng đồng, hiểu lịch sử dời làng giúp tránh những hiểu lầm hay gặp, chẳng hạn cho rằng đồng bào “mới đến” khu tập trung nên không gắn bó với đất. Thật ra họ gắn bó với cả một vùng rộng hơn nhiều so với lô đất hiện tại.
Làn sóng đồng bào phía Bắc: vì sao lại là Đắk Glong
Vùng Đắk Glong cũ, trong đó có Đắk Som và Đắk R'Măng, là một trong những nơi đón nhiều đồng bào phía Bắc nhất ở Tây Nguyên. Lý do nằm ở ba điều: đất đỏ bazan còn nhiều, rừng và đất trống rộng, và tin đồn lan theo đường họ hàng rằng ở đây có đất làm ăn. Một gia đình vào trước, ổn định được thì gọi anh em, người cùng bản vào sau.
Phần lớn là di cư tự do, nghĩa là không theo kế hoạch của nhà nước. Những năm đầu rất khó: chưa có đường, chưa có điện, trường, trạm y tế; nhiều hộ ở lán tạm trên rẫy, giấy tờ cư trú, giấy tờ đất chưa có. Chính quyền các cấp sau đó phải làm nhiều dự án để bố trí, ổn định dân di cư tự do, làm đường, kéo điện, dựng điểm trường.
Đến nay, nhiều thôn của đồng bào phía Bắc đã ổn định, có thế hệ thứ hai, thứ ba sinh ra ngay trên đất này. Họ giữ tiếng nói, Tết, trang phục của quê cũ nhưng sống bằng cây cà phê, hồ tiêu như mọi người. Với họ, Tà Đùng đã là quê.
Người Kinh: nhiều lớp, nhiều quê gốc
Người Kinh ở vùng Tà Đùng không đến theo một đợt. Lớp sớm là những người khai hoang, làm cho nông trường, lâm trường sau 1975. Lớp tiếp theo đến khi cà phê thành cây làm giàu ở Tây Nguyên, theo họ hàng từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung lên mua đất, mở rẫy. Thêm một lớp nữa đến theo các công trình làm đường và xây thủy điện, có người ở lại lập nghiệp sau khi công trình xong.
Mỗi lớp mang theo quê gốc của mình: hội đồng hương nhỏ, món ăn quê, cách cúng giỗ, giọng nói. Trong một xóm người Kinh ở Tà Đùng, có thể nghe giọng Thái Bình, giọng Nghệ, giọng Quảng cùng lúc. Con cháu sinh ra ở đây thì nói một giọng pha, và tự nhận mình là người Đắk Nông, nay là người Lâm Đồng.
Người Kinh làm phần lớn việc buôn bán, thu mua nông sản, sửa xe, vật tư nông nghiệp ở trung tâm xã, nhưng cũng là chủ của rất nhiều vườn cà phê trong các thôn. Họ là cầu nối thương mại giữa xã với Gia Nghĩa, với các đầu mối thu mua lớn hơn.
Hồ thủy điện Đồng Nai 3 và cuộc sắp xếp lại chỗ ở
Công trình thủy điện Đồng Nai 3 nằm trên dòng chính sông Đồng Nai, ở vùng giáp ranh giữa Đắk Nông cũ và Lâm Đồng cũ. Khi hồ tích nước, các thung lũng ven sông thành lòng hồ, đồi thành đảo. Một số hộ trong vùng ngập được bố trí tái định cư theo phương án của công trình, số khác tự dời lên chỗ cao trong cùng thôn.
Về mặt dân cư, hồ tạo ra hai hệ quả trái chiều. Một mặt, nó cắt đứt một số lối đi cũ giữa các thôn, buộc người ta đi vòng hoặc dùng thuyền. Mặt khác, nó mở ra nghề mới: đánh bắt cá, nuôi cá lồng, chở thuyền, và về sau là dịch vụ cho khách. Những khu ven hồ từ chỗ không ai ở thành chỗ có người dựng nhà.
Chuyện ký ức của người rời lòng hồ là chủ đề riêng, đã có nơi khác kể bằng giọng con người. Ở góc địa chí, điều cần ghi nhận là: bản đồ dân cư Tà Đùng sau khi có hồ khác hẳn trước đó, và các tài liệu cũ về vị trí thôn, bon trước khoảng năm 2010 nên đọc kèm bản đồ mới.
Lớp người mới theo hồ và điều đang thay đổi
Từ cuối những năm 2010, hình ảnh hồ nhiều đảo lan rộng trên mạng xã hội, gắn với những biệt danh dễ nhớ. Đi cùng là một lớp người mới: người thành phố lên mua vườn, mua đất để làm nơi nghỉ, nơi lưu trú; người trẻ ở các tỉnh khác lên làm dịch vụ; một số hộ địa phương chuyển từ làm vườn sang đón khách. Lớp này còn mỏng nhưng tập trung ở vài khu ven hồ nên dễ thấy.
Lớp người mới mang đến tiền, việc làm và cả những va chạm: giá đất tăng, chuyện đường đi lối lại, chuyện rác thải và nước thải ven hồ. Đây là điều bình thường ở mọi vùng có du lịch mới nổi, và cách các cộng đồng cũ, mới sống với nhau sẽ quyết định Tà Đùng mười năm tới ra sao.
Song song, một dòng ngược cũng đang chảy: thanh niên địa phương đi làm khu công nghiệp ở Bình Dương cũ, Đồng Nai, TP.HCM, có người về, có người ở lại thành phố. Dân cư Tà Đùng vì thế không đứng yên mà luôn có người đi, người đến.
Tìm hiểu lịch sử dân cư một thôn cụ thể: nên hỏi ai, xem gì
Nếu bạn là người con xa quê muốn ghi lại chuyện gia đình, hay người làm nghiên cứu, làm đề án cần lịch sử một thôn, có ba nguồn nên dùng. Nguồn thứ nhất là người: già làng, trưởng thôn, những hộ đến sớm nhất. Hỏi họ năm nào đến, đi từ đâu, ai dẫn đường, thôn trước kia ở chỗ nào, có những đợt dời nào.
Nguồn thứ hai là giấy tờ: các quyết định thành lập, chia tách, sáp nhập thôn của tỉnh; hồ sơ các dự án ổn định dân cư, định canh định cư; phương án tái định cư của công trình thủy điện. Những văn bản này nằm ở ủy ban xã, ở cơ quan lưu trữ của tỉnh. Sau sáp nhập, hồ sơ của huyện Đắk Glong cũ được chuyển giao theo quy định, nên khi hỏi cần nói rõ là hồ sơ của xã, huyện cũ.
Nguồn thứ ba là sách báo và tài liệu nghiên cứu về di dân ở Tây Nguyên, về người M'Nông, người Mạ, về đồng bào phía Bắc vào Tây Nguyên. Chúng không nói riêng Tà Đùng nhưng cho bạn khung để đặt câu chuyện của một thôn vào bức tranh chung.
Các đợt di dân để lại gì trong đời sống xã hôm nay
Dấu vết rõ nhất là cách các thôn nằm trên bản đồ. Bon của đồng bào bản địa thường ở các khu định canh định cư, nhà xây theo mẫu dự án xếp thành dãy; thôn của đồng bào phía Bắc nằm trên những sườn đồi từng là rẫy mới khai phá, đường vào làm sau; xóm người Kinh dày ở trung tâm và dọc trục đường. Nhìn cách nhà cửa sắp xếp có thể đoán khá đúng thôn ấy hình thành vào giai đoạn nào.
Dấu vết thứ hai nằm ở giấy tờ đất. Những hộ đến bằng di cư tự do, những hộ dời chỗ vì hồ, những hộ mua lại rẫy của người khác qua giấy tay trong các thập niên trước thường có lịch sử sử dụng đất phức tạp. Đây là lý do chuyện đất ở vùng này cần được xem từng trường hợp, không suy chung.
Dấu vết thứ ba là văn hoá. Một xã có Tết Mông cuối năm, giỗ họ của người Kinh, lễ mừng lúa mới của bon, hát then của người Tày là một xã mà lịch ngày vui dày hơn nhiều nơi khác. Các đợt di dân đã biến Tà Đùng thành nơi nhiều lớp văn hoá cùng có mặt.
Câu hỏi thường gặp
Đồng bào Mông ở Tà Đùng vào từ khi nào?
Phần lớn vào từ cuối thập niên 1980 và đông nhất trong thập niên 1990, chủ yếu là di cư tự do theo họ hàng từ các tỉnh miền núi phía Bắc. Mỗi thôn có năm đến khác nhau, muốn biết chính xác thì hỏi các hộ đến sớm hoặc trưởng thôn.
Huyện Đắk Glong được thành lập năm nào?
Huyện Đắk Glong được thành lập năm 2005, thuộc tỉnh Đắk Nông vừa tách ra năm 2004. Đắk Som và Đắk R'Măng là hai xã của huyện này cho tới khi cấp huyện bị bỏ và hai xã nhập thành xã Tà Đùng từ ngày 1/7/2025.
Hồ thủy điện có làm nhiều hộ ở Tà Đùng phải di dời không?
Khi hồ Đồng Nai 3 tích nước, các hộ trong vùng ngập phải dời theo phương án tái định cư của công trình hoặc dời lên chỗ cao. Số hộ cụ thể của từng xã nằm trong hồ sơ công trình và hồ sơ địa phương, không nên dùng con số ước đoán.
Trước 1975 vùng Tà Đùng thuộc tỉnh nào?
Trước 1975 vùng này thuộc tỉnh Quảng Đức. Sau 1975 thuộc tỉnh Đắk Lắk, từ 2004 thuộc tỉnh Đắk Nông, từ 2005 thuộc huyện Đắk Glong, và từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Tà Đùng, tỉnh Lâm Đồng.
Di cư tự do khác di dân theo chương trình thế nào?
Di dân theo chương trình là người dân đến theo kế hoạch của nhà nước, có nơi ở, đất sản xuất và hạ tầng bố trí trước. Di cư tự do là người dân tự đi, thường theo họ hàng, đến trước rồi chính quyền mới làm các dự án bố trí, ổn định sau.
Muốn ghi lại lịch sử gia đình lên Tà Đùng nên bắt đầu thế nào?
Bắt đầu bằng việc hỏi người lớn tuổi trong nhà: năm đến, quê cũ, đường đi, những chỗ đã ở. Ghi âm hoặc ghi chép kèm ngày tháng, chụp lại giấy tờ cũ còn giữ. Sau đó đối chiếu với các mốc hành chính để biết lúc ấy nơi mình ở thuộc xã, huyện, tỉnh nào.