Ở xã Tà Đùng, rừng nuôi người theo ba đường chính: nhận khoán bảo vệ rừng và hưởng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng; trồng và khai thác rừng trồng trên đất được giao; và thu hái một số lâm sản ngoài gỗ ở nơi được phép. Thu nhập từ rừng thường nhỏ hơn vườn cà phê nhưng đều đặn hơn, và có ý nghĩa lớn với hộ đồng bào bản địa ít đất sản xuất.
Đặc điểm riêng của Tà Đùng là xã nằm cạnh Vườn quốc gia Tà Đùng, khu rừng đặc dụng trên khối núi cao giáp vùng hồ thủy điện Đồng Nai 3, và có nhiều diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn quanh lòng hồ. Sống cạnh rừng đặc dụng mang lại một số nguồn thu, nhưng cũng đi kèm những giới hạn mà người mới đến cần biết rõ trước khi làm bất cứ việc gì trên đất gần rừng.
Ba loại rừng quanh Tà Đùng và ý nghĩa với người dân
Theo Luật Lâm nghiệp 2017, rừng chia làm ba loại: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Quanh Tà Đùng có đủ cả ba. Rừng đặc dụng là Vườn quốc gia Tà Đùng, nơi bảo tồn hệ sinh thái rừng núi cao và các loài quý; ở vùng lõi, mọi hoạt động khai thác bị cấm, người dân chỉ có thể tham gia ở dạng nhận khoán bảo vệ hoặc làm việc theo chương trình của vườn quốc gia.
Rừng phòng hộ đầu nguồn quanh lòng hồ có nhiệm vụ giữ đất, giữ nước cho hồ thủy điện và sông Đồng Nai phía hạ lưu. Ở đây việc khai thác bị hạn chế chặt, nhưng có cơ chế giao khoán bảo vệ và cho phép một số hoạt động sản xuất dưới tán theo quy định. Rừng sản xuất là nơi người dân, tổ chức được giao đất để trồng và khai thác gỗ, chủ yếu là rừng trồng keo, thông và một số loài khác.
Với người dân, biết mảnh đất gần nhà thuộc loại rừng nào là việc đầu tiên. Ranh giới giữa đất vườn, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ và vùng đệm vườn quốc gia quyết định được làm gì trên đất đó. Thông tin này có ở UBND xã và cơ quan kiểm lâm phụ trách địa bàn.
Nhận khoán bảo vệ rừng: công việc và thu nhập
Nhận khoán bảo vệ rừng là hình thức chủ rừng, như ban quản lý vườn quốc gia hay ban quản lý rừng phòng hộ, giao cho hộ gia đình, nhóm hộ hoặc cộng đồng thôn, bon trách nhiệm trông giữ một diện tích rừng. Người nhận khoán đi tuần tra định kỳ, phát hiện và báo cháy, báo chặt phá, săn bắt, lấn chiếm; tham gia làm đường băng cản lửa mùa khô; hỗ trợ khi có cháy.
Đổi lại, người nhận khoán được trả tiền khoán theo diện tích, cộng với tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng nếu khu rừng đó thuộc lưu vực có bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền. Các nhà máy thủy điện và cơ sở cấp nước trên sông Đồng Nai là bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng, nên rừng nằm trong lưu vực các hồ chứa ấy, như phần rừng đổ nước về hồ Tà Đùng, thường thuộc diện được xem xét chi trả. Khu rừng nào được chi trả, mức bao nhiêu mỗi năm do quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh xác định theo lưu vực, không cố định; người nhận khoán nên hỏi chủ rừng hoặc UBND xã.
Khoản thu từ khoán bảo vệ rừng không giàu nhưng đều, trả theo năm hoặc theo đợt, giúp hộ ít đất có thêm tiền mặt lúc giáp hạt. Với cộng đồng bon, khoán cho cả cộng đồng còn giữ được vai trò của già làng, người có uy tín trong việc giữ rừng, nối với truyền thống rừng thiêng, rừng của bon mà đồng bào bản địa đã có từ lâu.
Các nguồn thu gắn với rừng ở Tà Đùng
So sánh các nguồn thu từ rừng theo điều kiện tham gia và mức ổn định. Bảng không ghi số tiền vì mức chi trả thay đổi theo năm, theo lưu vực và theo quy định của tỉnh Lâm Đồng.
| Nguồn thu | Điều kiện tham gia | Tính chất thu nhập | Giới hạn |
|---|---|---|---|
| Khoán bảo vệ rừng | Hộ, nhóm hộ, cộng đồng ký hợp đồng với chủ rừng | Đều, theo năm hoặc đợt | Tiền nhỏ, phụ thuộc ngân sách |
| Chi trả dịch vụ môi trường rừng | Rừng thuộc lưu vực có bên trả dịch vụ | Theo năm, theo diện tích | Mức thay đổi theo lưu vực, theo năm |
| Rừng trồng sản xuất | Có đất rừng sản xuất được giao, thuê | Khoản lớn khi khai thác, sau nhiều năm | Vốn nằm lâu, giá gỗ dao động |
| Lâm sản ngoài gỗ | Ở nơi được phép, đúng loài, đúng mùa | Nhỏ, theo mùa | Cấm trong vùng lõi rừng đặc dụng |
| Làm việc cho dự án, chương trình rừng | Theo tuyển của chủ rừng, dự án | Theo đợt | Không thường xuyên |
Cần nhắc rằng chi trả dịch vụ môi trường rừng chỉ đến tay người nhận khoán khi khu rừng được giữ tốt: rừng bị phá, bị cháy thì diện tích được chi trả có thể bị trừ. Vì vậy tổ nhận khoán thường đặt quy ước nội bộ về chia ca tuần tra và trách nhiệm khi để mất rừng.
Phần lớn hộ sống nhờ rừng ở Tà Đùng kết hợp một hai dòng trong bảng với vườn nhỏ và chăn nuôi. Rừng ở đây hiếm khi là nguồn thu duy nhất, nhưng là nguồn thu ít rủi ro nhất trước biến động giá nông sản.
Rừng trồng: tiền để dành dài hạn
Trên đất rừng sản xuất được giao, nhiều hộ trồng keo vì cây mọc nhanh, chịu đất xấu, khai thác sau vài năm đến chục năm tuỳ mục đích lấy gỗ nhỏ hay gỗ lớn. Rừng keo không cần chăm nhiều như cà phê: phát dọn vài năm đầu, phòng cháy mùa khô, rồi chờ. Khi khai thác, khoản tiền về một lần, nhiều hộ coi đó như tiền để dành dài hạn cho việc lớn.
Mặt hạn chế là đất dốc sau khai thác trắng dễ bị xói mòn mạnh nếu gặp mưa lớn trước khi trồng lại, và giá gỗ keo phụ thuộc nhà máy băm dăm, ván ép trong vùng. Một số chương trình khuyến khích trồng rừng gỗ lớn, kéo dài chu kỳ để gỗ có giá trị cao hơn, hoặc trồng xen cây bản địa để rừng bền hơn. Khai thác rừng trồng cần làm thủ tục với cơ quan kiểm lâm và chính quyền theo quy định về quản lý lâm sản.
Với người mua lại đất có rừng trồng, cần phân biệt rõ cây trên đất thuộc ai, đất thuộc loại gì, có còn trong thời hạn giao khoán không. Đây là phần pháp lý thuộc các trang đất đai của hệ Tà Đùng; ở góc sinh kế, điều cần biết là rừng trồng là một khoản đầu tư dài, không phải nguồn tiền hằng năm.
Lâm sản ngoài gỗ: được hái gì, ở đâu
Măng, rau rừng mùa mưa. Đồng bào bản địa và nhiều hộ khác vẫn đi hái măng, rau rừng vào mùa mưa ở rừng sản xuất, rừng gần nhà. Ở vùng lõi rừng đặc dụng, việc vào rừng thu hái bị cấm hoặc hạn chế theo quy chế của vườn quốc gia.
Mật ong rừng. Lấy mật ong rừng là nghề truyền thống của một số gia đình, nhưng đốt lửa lấy mật trong mùa khô là nguyên nhân gây cháy rừng ở nhiều nơi. Nhiều hộ đã chuyển sang nuôi ong trong vườn cà phê.
Song mây, tre nứa. Dùng làm nhà, làm đồ đan. Khai thác để bán phải theo quy định về lâm sản; dùng trong gia đình ở rừng sản xuất thường được chấp nhận theo quy ước thôn.
Cây thuốc. Một số người hái lá, rễ cây làm thuốc theo kinh nghiệm dân gian. Hái trong rừng đặc dụng là vi phạm; dùng thuốc dân gian cũng không thay được khám bệnh, khi bệnh nên gặp bác sĩ.
Động vật rừng. Săn bắt, bẫy, buôn bán động vật hoang dã bị cấm theo pháp luật về lâm nghiệp và đa dạng sinh học, xử lý nặng với loài quý hiếm. Đây là điều không có ngoại lệ ở vùng quanh vườn quốc gia.
Sống ở vùng đệm vườn quốc gia: được hỗ trợ và bị giới hạn
Vùng đệm là khu vực bao quanh vùng lõi vườn quốc gia, nơi người dân vẫn sống và sản xuất bình thường nhưng các hoạt động được định hướng để giảm áp lực lên rừng. Nhiều thôn của xã Tà Đùng nằm trong hoặc sát vùng đệm của Vườn quốc gia Tà Đùng. Theo quy định về quản lý rừng đặc dụng, các dự án phát triển vùng đệm có thể hỗ trợ cộng đồng về giống cây, chăn nuôi, nước sạch, đường sá nhỏ, đổi lại cộng đồng cam kết không lấn rừng, không săn bắt.
Giới hạn là việc mở rộng đất canh tác về phía rừng gần như không thể, và những công trình xây dựng gần ranh giới vùng lõi phải được xem xét kỹ. Người dân mới đến, nhất là người mua đất làm vườn hay làm nhà nghỉ gần rừng, cần kiểm ranh giới với kiểm lâm và chính quyền xã trước khi làm gì. Đã có không ít trường hợp xây dựng, trồng cây trên đất rừng rồi bị buộc tháo dỡ.
Ở chiều ngược lại, vườn quốc gia cũng mở ra những công việc mới: tham gia điều tra, giám sát đa dạng sinh học, dẫn đường cho nhóm nghiên cứu, làm việc trong các mô hình du lịch sinh thái nếu được cấp phép. Phần thiên nhiên, sinh thái chuyên sâu của Vườn quốc gia Tà Đùng thuộc trang chuyên đề khác của hệ Tà Đùng.
Cháy rừng mùa khô: mối lo chung
Từ khoảng tháng 1 tới tháng 4, cỏ tranh, lau lách và lá rụng khô dần, gió mùa khô thổi mạnh, nguy cơ cháy rừng lên cao. Nguồn lửa phần lớn đến từ con người: đốt rẫy dọn vườn, đốt rác, lấy mật ong bằng lửa, tàn thuốc. Một đám cháy bắt đầu ở bờ vườn có thể lan lên đồi rừng trong vài giờ nếu gặp gió.
Mùa này, tổ nhận khoán bảo vệ rừng, kiểm lâm và lực lượng của xã tăng tuần tra, có nơi cấm đốt thực bì vào những ngày nắng gió cao điểm. Người làm vườn nên đốt dọn vào sáng sớm khi trời lặng, làm đường băng quanh chỗ đốt, có người trông cho tới khi tắt hẳn, hoặc tốt hơn là ủ cành lá làm phân thay vì đốt. Thấy cháy, báo ngay cho trưởng thôn, kiểm lâm hoặc chính quyền xã và gọi 114.
Một vụ cháy lan từ vườn sang rừng không chỉ gây thiệt hại tài sản mà người gây cháy còn có thể bị xử phạt, thậm chí truy cứu trách nhiệm theo pháp luật nếu hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy nhiều thôn đưa quy định về đốt dọn vườn vào hương ước, quy ước, và nhắc lại trong các buổi họp thôn đầu mùa khô hằng năm.
Câu hỏi thường gặp
Người dân Tà Đùng có được vào Vườn quốc gia Tà Đùng lấy măng, lấy củi không?
Trong vùng lõi rừng đặc dụng, khai thác lâm sản bị cấm hoặc hạn chế chặt theo quy chế quản lý vườn quốc gia. Ở rừng sản xuất và một số khu được phép, thu hái phục vụ gia đình thường theo quy ước thôn. Nên hỏi kiểm lâm và chính quyền xã về khu vực cụ thể.
Nhận khoán bảo vệ rừng ở Tà Đùng như thế nào?
Hộ, nhóm hộ hoặc cộng đồng thôn, bon ký hợp đồng với chủ rừng như ban quản lý vườn quốc gia hay rừng phòng hộ. Việc giao khoán theo kế hoạch hằng năm của chủ rừng, ưu tiên hộ sống gần rừng và hộ đồng bào. Thông tin đợt giao khoán có ở UBND xã.
Tiền dịch vụ môi trường rừng là gì?
Là khoản tiền các bên hưởng lợi từ rừng như nhà máy thủy điện, nước sạch trả cho chủ rừng và người giữ rừng, theo Luật Lâm nghiệp 2017 và văn bản hướng dẫn. Rừng trong lưu vực các hồ thủy điện, trong đó có hồ Tà Đùng, thường thuộc diện được xem xét chi trả; khu nào được trả và mức bao nhiêu do quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh xác định từng năm.
Trồng keo ở Tà Đùng bao lâu thì khai thác?
Tuỳ mục đích: lấy gỗ nhỏ cho băm dăm thường khai thác sau vài năm, lấy gỗ lớn thì kéo dài hơn. Khai thác cần làm thủ tục với kiểm lâm và chính quyền theo quy định quản lý lâm sản; nên hỏi cơ quan kiểm lâm phụ trách địa bàn.
Mua đất gần Vườn quốc gia Tà Đùng có được xây nhà không?
Phụ thuộc loại đất và vị trí so với ranh giới vùng lõi, vùng đệm, rừng phòng hộ. Phải kiểm tại UBND xã và cơ quan kiểm lâm trước khi mua hoặc xây; phần pháp lý đất đai chi tiết thuộc các trang đất đai của hệ Tà Đùng.
Thấy cháy rừng ở Tà Đùng thì làm gì?
Báo ngay cho trưởng thôn, tổ bảo vệ rừng, kiểm lâm hoặc chính quyền xã và gọi số cứu hỏa 114. Không tự lao vào đám cháy lớn khi không có dụng cụ và kinh nghiệm; ưu tiên an toàn của người và giúp lực lượng chữa cháy chỉ đường.