Ở xã Tà Đùng, chăn nuôi chủ yếu là chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ: vài chục con gà thả vườn, vài con heo, một số hộ có bò hoặc dê thả trên đồi và bãi ven hồ. Chăn nuôi ít khi là nguồn thu chính, nhưng giữ ba vai trò mà vườn cây không thay được: thực phẩm hằng ngày, tiền chợ đều đặn và một khoản để dành có thể bán ngay khi cần.
Vùng đồi quanh hồ thủy điện Đồng Nai 3 có lợi thế là đất rộng, có bãi cỏ ven hồ khi nước rút, nhưng cũng có những khó khăn riêng: mùa khô cỏ cạn, nước uống cho gia súc khan hiếm ở chỗ xa hồ, đường xa trạm thú y, và dịch bệnh có thể quét qua cả thôn. Bài này mô tả chăn nuôi như một phần trong sinh kế nông hộ, không đi vào kỹ thuật nuôi chuyên sâu.
Vì sao gần như nhà nào cũng nuôi một chút
Với nông hộ trồng cà phê, tiền về dồn vào cuối năm, các tháng còn lại phải chi tiêu dè sẻn. Gà, heo nuôi quanh nhà giải quyết khoảng trống ấy: bán vài con gà khi cần tiền chợ, bán heo khi đóng học phí cho con, giết gà khi có khách, có giỗ. Đồ ăn thừa, cám, bắp, khoai trồng được trong vườn trở thành thức ăn, nên chi phí nuôi nhỏ nếu nuôi ở quy mô vừa phải.
Bò thì giữ vai trò khác: là cách để dành tiền. Một con bê lớn lên thành bò mất vài năm, gần như không tốn tiền mặt nếu có bãi thả, rồi bán được một khoản lớn khi cần sửa nhà, cưới hỏi, chữa bệnh hay mua thêm đất. Với nhiều gia đình, đàn bò là tài khoản tiết kiệm sống, tăng giá trị theo thời gian.
Phân chuồng là lợi ích thứ ba. Vườn cà phê và cây trái trên đất dốc cần nhiều chất hữu cơ để giữ đất, và phân bò, phân heo, phân gà ủ hoai là nguồn phân quý mà nông hộ tự có. Những hộ vừa trồng vừa nuôi thường giảm được một phần tiền phân bón hoá học.
Tất nhiên, phân chuồng tươi bón thẳng vào gốc có thể mang mầm bệnh và làm nóng rễ, nên nông hộ quen ủ phân vài tháng với vôi, lá cây, vỏ cà phê trước khi bón. Đống phân ủ sau nhà, che bạt cho khỏi mưa trôi xuống suối, là hình ảnh quen thuộc trong các vườn đồi ở Tà Đùng.
Các vật nuôi phổ biến và vai trò trong nông hộ
Bảng tóm tắt các vật nuôi hay gặp ở Tà Đùng. Đây là mô tả định tính, không phải hướng dẫn kỹ thuật hay khuyến nghị nuôi con gì.
| Vật nuôi | Vai trò chính | Cần gì | Rủi ro thường gặp |
|---|---|---|---|
| Gà thả vườn | Thực phẩm, tiền chợ nhỏ | Chuồng ngủ, vườn thả | Dịch cúm gia cầm, chồn, rắn bắt |
| Heo | Tiền bán theo lứa, thực phẩm ngày lễ | Chuồng sạch, nguồn thức ăn | Dịch tả heo châu Phi, mùi, nước thải |
| Bò | Tiền để dành, phân chuồng | Bãi thả, nước uống, người chăn | Thiếu cỏ mùa khô, lở mồm long móng, viêm da nổi cục |
| Dê | Tiền bán, tận dụng đồi cây bụi | Chuồng sàn cao ráo, đồi thả | Phá cây non trong vườn, bệnh hô hấp mùa mưa |
| Vịt, ngan | Thực phẩm, tận dụng ven suối, ven hồ | Nước, chuồng | Dịch bệnh gia cầm |
Chọn nuôi con gì phụ thuộc vào đất, sức lao động và vị trí nhà. Nhà sát hồ có bãi thả nuôi bò thuận; nhà trong thôn đông dân nuôi heo phải tính chuyện mùi và nước thải với hàng xóm; nhà có đồi cây bụi có thể nuôi dê nhưng phải rào vườn cẩn thận.
Bãi thả ven hồ và chuyện cỏ mùa khô
Khi mực nước hồ Đồng Nai 3 hạ trong mùa khô, những dải đất ven lòng hồ lộ ra, cỏ mọc lên nhanh trên lớp phù sa mới. Đó là bãi thả bò quen thuộc của nhiều hộ ven hồ. Người chăn dắt bò xuống bãi buổi sáng, chiều lùa về. Nhưng đến cuối mùa khô, cỏ trên đồi cháy vàng, bãi ven hồ cũng bị gặm trụi, bò thiếu thức ăn.
Những hộ nuôi bò có kinh nghiệm thường trồng cỏ trong vườn, dự trữ rơm, thân cây bắp, cỏ khô cho mùa khô, hoặc cắt cỏ ven suối mang về. Nước uống cho gia súc cũng là chuyện phải tính: nhà gần hồ cho bò xuống hồ uống, nhà xa hồ phải chở nước hoặc làm máng ở ao chứa.
Khi mùa mưa đến và nước hồ dâng, bãi ven hồ chìm dần, bò phải chuyển lên đồi. Đây cũng là lúc cần để ý bò không đi lạc vào vườn nhà người khác phá cà phê, cây non, một nguyên nhân tranh chấp khá thường gặp giữa các hộ trong thôn.
Dịch bệnh: nỗi lo lớn nhất của chăn nuôi nông hộ
Chăn nuôi nhỏ lẻ khó phòng dịch hơn trang trại, vì vật nuôi đi lại tự do, chuồng trại đơn sơ, và việc mua bán gia súc qua lại giữa các vùng ít được kiểm soát. Trong những năm gần đây, dịch tả heo châu Phi từng lan rộng ở nhiều tỉnh, gây thiệt hại lớn cho người nuôi heo; với trâu bò có bệnh lở mồm long móng, viêm da nổi cục; với gia cầm có cúm gia cầm.
Những việc nông hộ có thể làm để giảm rủi ro: tiêm phòng theo đợt của thú y xã; không mua con giống không rõ nguồn gốc; cách ly vật mới mua vài tuần; giữ chuồng khô, sạch; không vứt xác vật nuôi chết xuống suối, xuống hồ; báo ngay cho thú y hoặc chính quyền xã khi thấy vật nuôi chết bất thường. Việc báo dịch sớm giúp cả thôn khoanh vùng, không phải giấu.
Thuốc thú y nên dùng theo hướng dẫn của nhân viên thú y, không tự ý dùng kháng sinh tràn lan. Khi người trong nhà có biểu hiện bệnh sau khi tiếp xúc với gia cầm, heo bệnh, cần đi khám bác sĩ ngay và nói rõ việc tiếp xúc.
Quy định chăn nuôi nông hộ cần biết
Luật Chăn nuôi 2018 phân biệt chăn nuôi trang trại và chăn nuôi nông hộ. Chăn nuôi nông hộ ở quy mô nhỏ không phải xin giấy phép như trang trại, nhưng vẫn phải kê khai hoạt động chăn nuôi với UBND cấp xã theo quy định, giữ vệ sinh môi trường, xử lý chất thải không gây ô nhiễm, và tuân thủ quy định về phòng chống dịch bệnh.
Ở những khu dân cư tập trung, chính quyền có thể hạn chế chăn nuôi để tránh ô nhiễm. Nuôi heo gần nhà hàng xóm, gần nguồn nước sinh hoạt, hay để nước thải chuồng heo chảy xuống suối, xuống hồ là nguyên nhân hay gây khiếu nại. Với hộ ven hồ, nước thải chăn nuôi chảy xuống hồ còn ảnh hưởng chính nghề cá và nước sinh hoạt của thôn.
Những quy định chi tiết như ngưỡng quy mô phải đăng ký trang trại, khoảng cách chuồng trại tới khu dân cư có thể được tỉnh Lâm Đồng cụ thể hoá sau khi sắp xếp. Người định nuôi số lượng lớn hơn mức gia đình nên hỏi UBND xã Tà Đùng trước khi xây chuồng.
Chăn nuôi trong các nhóm cư dân khác nhau
Đồng bào bản địa. Người M'Nông, Mạ có truyền thống nuôi heo, gà thả quanh nhà và nuôi trâu, bò. Vật nuôi gắn với các dịp lễ của bon, nên giữ đàn còn mang ý nghĩa văn hoá chứ không chỉ để bán.
Đồng bào từ phía Bắc vào. Các gia đình đến từ vùng núi phía Bắc mang theo thói quen chăn nuôi của quê cũ: heo, gà thả quanh nhà, có nhà nuôi trâu bò kéo và giữ giống vật nuôi địa phương theo lối quen. Bữa cỗ ngày Tết, ngày cưới của họ thường dùng chính vật nuôi trong nhà.
Người Kinh từ đồng bằng. Nuôi heo, gà vịt theo lối nông hộ đồng bằng, một số hộ mở rộng thành gia trại nhỏ khi có vốn.
Chủ vườn ở xa. Một số người mua đất làm vườn nhưng không ở thường xuyên, ít chăn nuôi; nếu nuôi bò thì thuê người trong thôn chăn hộ theo thoả thuận chia bê.
Hộ làm nghề hồ. Nhà sát mép nước thường nuôi vịt, ngan thả ven hồ, tận dụng cá vụn, tép nhỏ làm thức ăn. Vịt ven hồ cần được nhốt khi nước dâng nhanh và tránh thả ở chỗ người khác đặt lưới.
Bán vật nuôi: thương lái, lò mổ và thịt an toàn
Phần lớn gà, heo, bò ở Tà Đùng được bán cho thương lái đi xe vào thôn mua, hoặc bán cho người quen trong xã khi có đám tiệc. Bò thường được thương lái đến xem tận chuồng, mặc cả theo con hoặc ước lượng theo cân hơi. Vì người bán ít khi có cân lớn, giá cả phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm ước lượng của hai bên, và đây là chỗ người nuôi dễ thiệt nếu không tham khảo nhiều mối.
Thịt bán ở chợ xã, quầy thịt trong thôn phần nhiều là heo, gà, bò giết mổ ở địa phương. Theo quy định về thú y và an toàn thực phẩm, giết mổ để bán phải ở cơ sở giết mổ được phép và qua kiểm soát của thú y; giết mổ trong nhà chỉ để dùng trong gia đình. Ở vùng xa như Tà Đùng, việc này còn khó áp dụng đầy đủ, nhưng người mua nên ưu tiên thịt có nguồn gốc rõ, không mua thịt có màu sắc, mùi bất thường, nhất là trong mùa có dịch.
Khi bán vật nuôi ra khỏi xã hoặc mua giống từ nơi khác về, cần lưu ý quy định về kiểm dịch vận chuyển động vật, đặc biệt trong thời gian địa phương công bố dịch. Hỏi nhân viên thú y xã trước khi chở đi xa giúp tránh bị giữ xe giữa đường.
Hướng đi đang được thử ở vùng đồi
Một số hộ ở các vùng đồi Tây Nguyên đang thử mô hình chăn nuôi gắn với vườn: nuôi gà dưới tán sầu riêng, bơ để gà ăn cỏ, sâu, phân gà bón lại cho cây; nuôi bò vỗ béo bằng cỏ trồng và phụ phẩm vườn; nuôi ong trong vườn cà phê để lấy mật và giúp thụ phấn. Những mô hình này hợp với nông hộ vì tận dụng cái sẵn có, nhưng đòi hỏi tính toán để vật nuôi không phá cây.
Các chương trình hỗ trợ sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thường có hạng mục hỗ trợ giống bò, dê, heo cho hộ nghèo, hộ cận nghèo. Hiệu quả của các chương trình này phụ thuộc nhiều vào việc chọn giống hợp khí hậu, có bãi thả, có người chăm và có thú y đi kèm. Người muốn biết đợt hỗ trợ nào đang có nên hỏi UBND xã Tà Đùng.
Câu hỏi thường gặp
Nuôi bò ở Tà Đùng có thả được ven hồ không?
Nhiều hộ ven hồ thả bò trên bãi cỏ lộ ra khi nước hồ rút mùa khô. Cần để ý hành lang bảo vệ hồ chứa, mực nước lên khi mùa mưa đến và tránh để bò sa lầy ở bãi bùn. Nên hỏi chính quyền xã nếu có quy định riêng về khu vực thả.
Chăn nuôi heo trong nhà có phải xin phép không?
Chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ không phải xin giấy phép như trang trại, nhưng phải kê khai với UBND xã theo Luật Chăn nuôi 2018, giữ vệ sinh môi trường và tuân thủ quy định phòng dịch. Ngưỡng quy mô cụ thể nên hỏi UBND xã Tà Đùng.
Vật nuôi chết bất thường thì làm gì?
Không bán chạy, không vứt xác xuống suối hay hồ. Báo ngay cho nhân viên thú y hoặc UBND xã để xác định nguyên nhân và khoanh vùng nếu là dịch. Người tiếp xúc với vật nuôi bệnh mà có biểu hiện bất thường nên đi khám bác sĩ.
Vì sao nông dân Tà Đùng coi bò là tiền để dành?
Bò lớn dần và tăng giá trị theo thời gian mà ít tốn tiền mặt nếu có bãi thả, lại bán được một khoản lớn khi cần. Với nông hộ có thu nhập dồn vào mùa cà phê, đàn bò là cách giữ tài sản thay cho gửi tiền.
Có chương trình hỗ trợ giống vật nuôi ở Tà Đùng không?
Các chương trình hỗ trợ sinh kế cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thường có hạng mục hỗ trợ giống vật nuôi cho hộ nghèo, cận nghèo theo từng đợt. Thông tin cụ thể nên hỏi UBND xã Tà Đùng hoặc trưởng thôn.