Ở xã Tà Đùng (Lâm Đồng), hai nhóm dân cư có đời sống khác hẳn phần còn lại của xã: những cụm dân cư ven hồ thủy điện Đồng Nai 3, phần lớn hình thành sau khi hồ tích nước, gồm hộ làm cá, hộ làm vườn và người mới lên làm dịch vụ; và các thôn, bon sát rừng, trong vùng đệm Vườn quốc gia Tà Đùng, nơi có nhiều bon của đồng bào M'Nông, Mạ và những thôn lập trên sườn đồi khai phá.
Bài này nhìn hai nhóm ấy theo góc dân cư: họ là ai, chỗ ở hình thành thế nào, quy định nào chi phối việc ở và dựng nhà, và dân số đổi ra sao theo mùa. Chuyện nhận khoán giữ rừng, nghề cá theo mùa nước, phòng cháy rừng có bài riêng trong các chuyên mục sinh kế và khí hậu; vị trí Vườn quốc gia trên bản đồ có bài riêng trong chuyên mục bản đồ vùng hồ.
Hai địa bàn đặc biệt trong một xã
Xã Tà Đùng nằm giữa hai mảng lớn: rừng của Vườn quốc gia Tà Đùng và mặt hồ Đồng Nai 3. Vườn quốc gia là khu rừng đặc dụng có ranh giới riêng, trải trên đất của một số xã thuộc huyện Đắk Glong cũ. Hồ là hồ chứa của một công trình thủy điện trên dòng chính sông Đồng Nai, mặt nước nằm giữa đất của nhiều xã ở cả hai bờ.
Phần lớn dân cư của xã ở trên các dải đồi đất đỏ, xa cả rừng đặc dụng lẫn mép nước. Nhưng có những thôn sát bìa rừng, trong dải vùng đệm, và có những khu dân cư ra tận mép hồ. Theo Luật Lâm nghiệp năm 2017, vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng mặt nước nằm sát ranh giới khu rừng đặc dụng, có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ tác động xấu vào khu rừng ấy; người dân trong vùng đệm vẫn sinh sống, sản xuất bình thường.
Hai địa bàn này nhỏ về diện tích so với cả xã, nhưng là nơi đời sống thay đổi nhanh nhất và cũng là nơi quy định về đất, rừng, nước chạm vào chuyện ở của người dân nhiều nhất.
Cụm dân cư ven hồ hình thành thế nào
Trước khi hồ Đồng Nai 3 tích nước, ven sông Đồng Nai là những thung lũng có bon làng, rẫy và đường mòn. Khi hồ hình thành, một số hộ trong vùng ngập được bố trí tái định cư theo phương án của công trình, số khác tự dời lên chỗ cao trong cùng thôn. Mép nước mới vì thế không phải là nơi dân cư cũ, mà là một đường biên hoàn toàn mới.
Những người đầu tiên ra mép hồ thường là người làm cá: dựng lán gần bến, đặt lồng ở vịnh kín gió, sống nửa trên bờ nửa trên nước. Dần dần, những hộ có vườn trên đồi gần hồ mở lối xuống nước, có thêm thuyền. Từ cuối những năm 2010, khi cảnh hồ được biết rộng, người từ nơi khác lên mua đất ven hồ, dựng nhà, làm nơi lưu trú, kéo theo người làm thuê, làm dịch vụ.
Một số khu tái định cư của công trình được bố trí trên đồi cao gần đường, xa mép nước mới, nên không ít hộ từng sống bên sông nay lại ở cách hồ một quãng. Người lớn tuổi trong những hộ này còn nhớ tên các bãi, các thác, các con suối cũ dưới lòng hồ; đó là lớp ký ức địa danh mà bản đồ mới không còn ghi. Với người làm địa chí, ghi lại những tên ấy cùng vị trí ước chừng là việc nên làm sớm.
Kết quả là ven hồ hôm nay có ba lớp chồng nhau trong cùng một khoảng thời gian ngắn: hộ tái định cư, hộ làm cá và người mới đến. Đây là lý do những cụm dân cư ven hồ thường lỏng lẻo hơn thôn lâu đời, ít có cảm giác chung một làng.
Ai sống ven hồ và ai sống sát rừng
Ven hồ, cư dân pha trộn: hộ đồng bào làm cá, hộ người Kinh làm lồng bè, người từ nơi khác lên làm dịch vụ, cùng những hộ vườn có đất chạy xuống mép nước. Những khu này thay đổi nhanh nhất trong xã, có nơi mấy năm trước chỉ có vài lán cá, nay đã có nhà nghỉ, bến thuyền.
Ven rừng, cư dân thường là những bon của đồng bào bản địa M'Nông, Mạ vốn gắn với rừng từ xưa, và các thôn của đồng bào phía Bắc lập trên những sườn đồi khai phá sau này. Nhiều người lớn tuổi trong bon biết rừng rất kỹ: tên cây, đường mòn, mùa măng, mùa nấm, tên những con suối nay đã thành lòng hồ. Đây là vốn hiểu biết mà Ban quản lý vườn quốc gia và các chương trình cộng đồng có thể học khi làm việc với dân.
Điểm chung của hai nhóm là đời sống phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên chung: rừng và nước. Khi rừng còn, nước hồ sạch, sinh kế bền; khi rừng bị phá, hồ ô nhiễm, những hộ này chịu thiệt đầu tiên.
Những quy định chi phối chuyện ở và dựng nhà
Ranh giới rừng đặc dụng, phòng hộ. Trong rừng đặc dụng không lập chỗ ở mới; những diện tích nằm trong ranh rừng chịu quy định nghiêm ngặt, kể cả khi đã có người canh tác từ trước. Đây là lý do một số thôn sát rừng còn vướng giấy tờ đất dù dân đã ở lâu năm.
Hành lang bảo vệ hồ chứa. Theo pháp luật về tài nguyên nước và an toàn hồ chứa, dải đất ven hồ có hành lang bảo vệ, hạn chế xây dựng, san lấp. Phạm vi cụ thể theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho từng hồ.
Loại đất ven hồ. Nhiều diện tích ven hồ là đất lâm nghiệp hoặc đất do chủ hồ quản lý, không phải đất ở. Dựng nhà, làm bến, kè bờ cần kiểm tra loại đất và xin phép trước.
Mặt nước và lồng bè. Đặt lồng nuôi cá, mở bến trên hồ chứa chịu quy định của chủ hồ và chính quyền địa phương; tự ý đặt rồi bị yêu cầu tháo dỡ là chuyện đã gặp ở nhiều hồ.
Rác và nước thải. Xả rác, nước thải xuống hồ bị cấm. Ở các cụm dân cư ven hồ có khách, đây là việc cả cộng đồng phải cùng giữ.
Những thôn sát rừng: đường xa, sương dày và nhịp sống riêng
Các thôn, bon nằm sát bìa rừng ở vùng Tà Đùng thường ở trên cao hơn, đường vào dài hơn và dốc hơn so với các thôn quanh trung tâm xã. Mùa mưa, đoạn đường đất cuối cùng vào thôn có thể trơn, xe chở nông sản khó đi; nhiều hộ phải gom hàng ra điểm đường bê tông gần nhất rồi mới bán được.
Khí hậu ở đây cũng khác chút ít: sương buổi sáng dày và tan muộn hơn, đêm mát hơn, mùa mưa ẩm kéo dài. Người ở lâu quen với việc làm vườn khi sương còn đọng, phơi cà phê phải canh nắng giữa trưa.
Với các dịch vụ xã hội như trường, trạm y tế, chợ, các thôn sát rừng thường ở xa nhất. Điểm trường lẻ, xe đưa đón học sinh, lịch tiêm chủng lưu động là những thứ quyết định đời sống ở đây. Người làm công việc cộng đồng nên tính thêm thời gian và mùa khi lên kế hoạch về những thôn này.
Dân số ven hồ đổi theo mùa và theo tuần
Khác với thôn vườn trên đồi, nơi phần lớn hộ ở cố định quanh năm, dân số ven hồ lên xuống rõ rệt. Mùa hái cà phê, các hộ vườn gần hồ thuê thêm thợ hái, có người ở lại trong lán. Vào cuối tuần, ngày lễ, các khu có nơi lưu trú đón thêm khách và người làm thời vụ phục vụ khách; ngày thường thì vắng hẳn.
Một số chủ nhà ven hồ là người thành phố chỉ lên theo mùa, giao nhà, giao vườn cho người địa phương trông. Vì thế có những căn nhà gần như bỏ trống nhiều tháng, trong khi người trông nhà mới là cư dân thật. Với những việc như an ninh trật tự, phòng cháy, thu gom rác, sự lệch giữa người có tên trên giấy và người thật sự ở đó là điều thôn, xã phải tính.
Bên rìa rừng thì ngược lại: dân cư ổn định hơn, ít người đến người đi, nhưng thanh niên đi làm xa nhiều, để lại người già và trẻ nhỏ. Hai kiểu biến động này cần hai cách làm việc cộng đồng khác nhau.
Cộng đồng, Ban quản lý vườn và chính quyền: ba bên cùng một địa bàn
Ở vùng đệm, đời sống của dân chịu tác động của ba bên: chính quyền xã quản lý dân cư và đất đai; Ban quản lý Vườn quốc gia Tà Đùng quản lý rừng đặc dụng và các chương trình vùng đệm; chủ hồ quản lý vận hành hồ chứa. Một hộ muốn làm nhà, mở lối xuống nước hay mở rộng vườn có khi phải hỏi cả ba.
Va chạm vẫn có: diện tích canh tác lấn vào rừng trong quá khứ chưa giải quyết xong, quy định chặt khiến một số hộ khó khăn, xây dựng ven hồ tự phát. Những chuyện này cần thời gian và đối thoại; kinh nghiệm chung ở nhiều vườn quốc gia cho thấy việc mời già làng, trưởng thôn ngồi cùng bàn từ đầu giúp giảm hẳn mâu thuẫn.
Với người ngoài, nhất là người lên mua đất, hiểu rằng mình đang ở giữa một vùng đệm và một hồ chứa là điều cơ bản. Thông tin về ranh giới nên hỏi ủy ban xã và Ban quản lý vườn, không dựa vào lời người bán đất.
Số hộ ven hồ, số hộ trong vùng đệm: tìm ở đâu
Câu hỏi hay gặp là ven hồ có bao nhiêu hộ, vùng đệm có bao nhiêu thôn. Không có con số riêng cho xã Tà Đùng mới được công bố rộng rãi. Ranh giới vùng đệm được xác định trong hồ sơ thành lập và quy hoạch của Vườn quốc gia, không trùng với ranh thôn, nên đếm theo thôn cũng không ra đúng số hộ trong vùng đệm.
Người cần số liệu cho đề án, nghiên cứu nên hỏi Ban quản lý Vườn quốc gia về danh sách thôn, bon trong vùng đệm và các chương trình đang triển khai, hỏi ủy ban xã về số hộ, số khẩu theo thôn, và hỏi chủ hồ hoặc cơ quan quản lý về hộ có lồng bè, bến trên hồ. Ghép ba nguồn mới có được bức tranh tương đối đủ.
Khi dùng số liệu cũ của xã Đắk Som, Đắk R'Măng trước 7/2025, cần ghi rõ năm và nguồn, và nhớ rằng dân cư ven hồ thay đổi nhanh hơn mọi nơi khác trong xã.
Câu hỏi thường gặp
Vùng đệm Vườn quốc gia Tà Đùng có được ở và làm vườn không?
Được. Vùng đệm không phải là rừng đặc dụng; người dân vẫn sinh sống, sản xuất trên đất của mình. Tuy vậy phải tuân thủ các quy định về rừng, phòng cháy, khai thác lâm sản, và nên hỏi trước khi làm gì sát ranh giới rừng.
Ai sống ven hồ Tà Đùng?
Ven hồ có hộ tái định cư của công trình thủy điện, hộ đồng bào và người Kinh làm cá, nuôi lồng, hộ vườn có đất chạy xuống mép nước, và người từ nơi khác lên làm dịch vụ, lưu trú. Phần lớn các cụm này hình thành sau khi hồ tích nước.
Có được xây nhà sát mép hồ Đồng Nai 3 không?
Không tự ý được. Ven hồ chứa có hành lang bảo vệ và nhiều diện tích là đất lâm nghiệp hoặc đất do chủ hồ quản lý. Xây dựng, làm bến, kè bờ cần kiểm tra loại đất và xin phép theo quy định; hỏi ủy ban xã trước khi làm.
Vì sao một số thôn sát rừng còn vướng giấy tờ đất?
Một phần đất canh tác ở các thôn sát rừng có nguồn gốc từ đất rừng hoặc nằm gần ranh rừng đặc dụng, phòng hộ. Việc công nhận phụ thuộc quy hoạch, nguồn gốc và thời điểm sử dụng, nên cần rà soát từng trường hợp với cơ quan có thẩm quyền.
Có số hộ sống trong vùng đệm Vườn quốc gia Tà Đùng không?
Chưa có con số riêng cho xã Tà Đùng mới được công bố rộng rãi. Ranh vùng đệm không trùng ranh thôn, nên cần hỏi Ban quản lý Vườn quốc gia về thôn trong vùng đệm và ủy ban xã về số hộ theo thôn, rồi ghép lại.
Ai quản lý Vườn quốc gia Tà Đùng sau khi Đắk Nông nhập Lâm Đồng?
Vườn quốc gia Tà Đùng có Ban quản lý riêng. Sau khi Đắk Nông nhập vào Lâm Đồng từ tháng 7/2025, việc quản lý thuộc tỉnh Lâm Đồng theo phân cấp hiện hành. Muốn làm việc, hãy liên hệ Ban quản lý vườn hoặc ủy ban xã sở tại.