TaDung.vnTà Đùng
Bản đồ vùng đất và vùng hồ

Các đảo trên hồ Tà Đùng hình thành thế nào: đỉnh đồi cũ, bán đảo và doi đất theo mùa

Đảo trên hồ Tà Đùng là đỉnh đồi cũ nhô khỏi mặt nước khi hồ Đồng Nai 3 tích nước. Vì sao có đảo, có bán đảo, vì sao số đảo đổi theo mùa và đảo thuộc quyền quản lý nào.

Several rounded green islands rising from calm blue water, a bare reddish ring of exposed shoreline around each island in dry season, a small boat crossing between them

Các đảo trên hồ Tà Đùng là những đỉnh đồi cũ của thung lũng sông Đồng Nai còn nhô lên khỏi mặt nước khi hồ thủy điện Đồng Nai 3 tích nước. Đồi nào cao hơn mực nước thì thành đảo; dãy đồi còn nối với bờ thì thành bán đảo. Vì mực nước hồ lên xuống theo mùa, số đảo và hình dạng đảo cũng đổi: mùa khô, một số đảo nối liền với bờ bằng doi đất; mùa nước đầy, chúng tách rời.

Người ta hay nói hồ có "hàng chục hòn đảo". Con số này đúng tinh thần, nhưng không nên coi là con số đo đạc, vì đếm vào mùa nào, tính cả đảo nhỏ như mô đất hay không sẽ ra kết quả khác nhau. Bài này giải thích vì sao có đảo, chúng trông ra sao qua các mùa, và về mặt quản lý thì đảo là đất gì.

Từ đồi thành đảo: cơ chế đơn giản

Tưởng tượng một vùng đồi nhấp nhô bên thung lũng sông, đồi cao thấp khác nhau. Khi đổ nước vào thung lũng tới một mức nào đó, mọi chỗ thấp hơn mức nước biến mất dưới hồ, còn những đồi cao hơn thì lộ phần chóp. Chóp đồi đứng riêng, xung quanh toàn nước, là đảo. Dãy đồi kéo dài từ bờ ra, chỉ ngập phần yên ngựa thấp, là bán đảo hoặc chuỗi đảo.

Ở hồ Tà Đùng, vùng ngập rơi đúng vào kiểu địa hình đồi bát úp của cao nguyên bazan, nên chóp đồi lộ ra thường tròn, thoải, phủ cây. Đó là lý do đảo ở đây có dáng mềm, khác với đảo đá vôi dựng đứng của vịnh Hạ Long, dù người ta hay ví von hai nơi với nhau.

Kích thước đảo phụ thuộc đồi gốc. Đồi lớn thành đảo lớn có thể còn rừng, vườn cũ; đồi nhỏ chỉ còn một mô đất với vài cây. Những đảo rất nhỏ có thể chìm hẳn khi hồ đầy và chỉ hiện ra khi nước rút.

Vị trí các đảo cũng không ngẫu nhiên. Chúng tập trung ở đoạn thân hồ, nơi thung lũng sông xưa rộng và hai bên có nhiều đồi thấp xen kẽ. Ở đoạn gần đập, thung lũng hẹp và dốc nên ít đảo; ở đoạn thượng lưu, mặt nước hẹp lại theo lòng sông nên cũng thưa đảo. Vì vậy, nếu nhìn bản đồ thấy một vùng hồ lốm đốm đảo, đó gần như chắc chắn là đoạn kề vùng Đắk Som cũ của xã Tà Đùng. Người địa phương định hướng trên mặt nước bằng chính các đảo này: mỗi đảo một dáng, nhìn quen là biết mình đang ở nhánh nào.

Bán đảo, mũi đất và doi đất

Không phải mọi chỗ nhô ra nước đều là đảo. Dọc bờ hồ có nhiều bán đảo: phần đất ba mặt giáp nước, một mặt nối với đất liền. Bán đảo hình thành khi một sống đồi dài chạy từ bờ ra lòng hồ, phần đầu cao vẫn lộ, phần thân thấp hơn vẫn nối với bờ. Những mũi đất nhọn là đầu của các sống đồi như vậy.

Doi đất là dải đất hẹp nối đảo với bờ hay nối hai đảo với nhau, xuất hiện khi mực nước hạ xuống dưới cao độ của yên ngựa giữa hai đồi. Doi đất mùa khô có thể đi bộ qua được, nhưng nền thường là bùn khô, đất bán ngập, có chỗ lún. Khi mưa đầu mùa tới, nước lên nhanh và doi đất ngập trở lại, có khi chỉ trong vài tuần.

Vì vậy một hòn đảo trên bản đồ vệ tinh chụp mùa khô có thể trông như bán đảo, còn trên ảnh chụp mùa mưa lại tách hẳn. Người dân ven hồ hiểu rõ nhịp này và chỉ dùng doi đất để đi lại khi chắc chắn nước còn thấp.

Đảo qua các mùa trong năm

Bảng mô tả theo nguyên lý vận hành chung của hồ chứa trên Tây Nguyên: tích nước trong mùa mưa, xả dần trong mùa khô. Mốc tháng là gần đúng, thay đổi theo từng năm mưa nhiều hay ít.

Giai đoạnMực nướcĐảo trông thế nào
Cuối mùa mưa (khoảng tháng 10 – 12)Cao nhất trong nămĐảo tách rời, nhỏ nhất, cây xanh sát mép nước; nhiều mô đất nhỏ chìm
Đầu và giữa mùa khô (khoảng tháng 1 – 3)Hạ dầnViền đất nâu đỏ quanh đảo rộng ra; vài doi đất bắt đầu lộ
Cuối mùa khô (khoảng tháng 4 – 6)Thấp nhấtNhiều đảo nối bờ; đáy hồ cũ lộ ra, có gốc cây, nền nhà cũ
Đầu mùa mưa (khoảng tháng 6 – 9)Lên dầnDoi đất ngập trở lại; viền bờ thu hẹp; nước đục do bùn đổ về

Mốc tháng của mỗi năm khác nhau vì phụ thuộc lượng mưa và quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Đồng Nai.

Đảo là đất gì: quyền sử dụng và quản lý

Câu hỏi hay gặp là đảo trên hồ có chủ không, ai được ở, ai được làm gì. Nguyên tắc chung là đất trên đảo vẫn là đất, thuộc địa giới hành chính của một xã, có loại đất theo bản đồ địa chính: có thể là đất rừng, đất nông nghiệp còn lại từ trước khi có hồ, đất thuộc phạm vi công trình hoặc hành lang bảo vệ hồ chứa. Có đảo có người đang sử dụng hợp pháp, có đảo là đất công.

Phần đất quanh mép đảo nằm giữa mức nước cao và mức nước thấp là đất bán ngập, thường thuộc phạm vi quản lý của hồ chứa. Việc xây dựng, san lấp, rào chắn trên phần này bị hạn chế theo quy định về an toàn đập, hồ chứa nước và về hành lang bảo vệ nguồn nước. Muốn biết một hòn đảo cụ thể được sử dụng vào việc gì, phải tra hồ sơ địa chính và quy hoạch, không thể suy từ việc thấy trên đó có người hay có nhà.

Trang này không bàn chuyện mua bán đất đảo; khía cạnh pháp lý đất có các trang chuyên về nhà đất trong hệ Tà Đùng. Ở góc địa lý, chỉ cần nhớ: đảo là đất có ranh giới, có loại đất, có người quản lý, không phải vùng tự do.

Đảo trong đời sống người ven hồ

Với người dân Tà Đùng, đảo không chỉ là cảnh. Có đảo là nơi chăn thả, trồng cây ngắn ngày trong mùa nước thấp; có đảo là điểm dừng của người đánh cá, nơi buộc lưới, nghỉ trưa; có đảo gần bờ được dùng làm mốc để định hướng khi đi thuyền trong sương. Những hòn đảo có tên gọi dân gian, thường đặt theo hình dáng hoặc theo người từng canh tác ở đó, nhưng tên này ít khi xuất hiện trên bản đồ chính thức.

Đảo cũng là nơi có rủi ro. Người lên đảo bằng doi đất mùa khô có thể bị nước lên cô lập nếu ở lâu vào đầu mùa mưa; bờ đảo đất mềm có thể sụt khi sóng đánh; xung quanh đảo nước sâu đột ngột. Người lớn tuổi trong vùng thường dặn trẻ con không bơi ra đảo, dù nhìn thấy gần.

Khi lượng người đến hồ tăng lên, nhiều đảo trở thành nơi hướng tới của khách đi thuyền. Chuyện đó thuộc phần du lịch và cảnh quan; ở đây chỉ nhắc rằng mọi hoạt động trên đảo vẫn chịu các quy định chung về đất đai, rừng và hồ chứa.

Nhìn đảo trên bản đồ và ảnh vệ tinh

Trên bản đồ địa hình cũ, vẽ trước khi có hồ, bạn có thể tìm lại các đảo hiện nay bằng cách lần theo những vòng đồng mức kín ở cao độ trên mức nước hồ. Theo cùng nguyên lý ấy, ai có bản đồ địa hình cũ cũng hình dung được trước đảo nào lớn, đảo nào nhỏ, chỗ nào sẽ thành doi đất mùa khô. Với người không chuyên, so ảnh vệ tinh hai mùa là cách dễ hơn.

Ảnh vệ tinh mùa khô cho thấy viền đất nâu đỏ quanh đảo, độ rộng của viền phản ánh độ thoải của sườn đồi gốc: viền rộng là sườn thoải, viền hẹp là sườn dốc. Ảnh mùa mưa cho thấy đảo thu lại chỉ còn phần có cây. Nhìn hai ảnh cạnh nhau, bạn đoán được đảo nào có doi đất nối bờ vào mùa khô, và nơi nào bờ dốc nguy hiểm.

Các ứng dụng bản đồ phổ thông hiếm khi ghi tên đảo; nếu có, đó thường là tên do người dùng đặt cho một cơ sở trên đảo, không phải tên địa danh. Khi viết hay nói về một hòn đảo, nên mô tả theo vị trí so với thôn hoặc nhánh hồ gần nhất.

Đáy hồ lộ ra mùa khô: dấu vết vùng đất trước khi ngập

Cuối mùa khô, khi nước xuống thấp, quanh các đảo và dọc bờ hồ lộ ra những thứ của vùng đất trước khi có hồ: gốc cây cụt đã chết từ lâu, nền đất bằng từng là chỗ ở hay vườn, lối mòn cũ chạy xuống bến sông, đá ghềnh của lòng sông xưa ở đoạn gần thượng lưu. Với người từng sống ở vùng lòng hồ trước tái định cư, đây là những dấu vết quen thuộc.

Những dấu vết này giúp người ngoài hiểu rằng đảo trên hồ không phải đất mới nổi mà là phần còn lại của một vùng đồi có người sống, có vườn, có đường. Nó cũng nhắc rằng dưới mặt nước hồ đầy là địa hình gồ ghề với gốc cây, đá, hố sâu — điều người đi thuyền và người bơi phải biết.

Đất đáy hồ lộ ra thường là bùn lắng mịn, khô nứt nẻ trên mặt nhưng có thể mềm bên dưới. Đi trên đó, nhất là gần mép nước, dễ lún chân. Đây không phải nơi cho trẻ con chạy chơi tự do.

Sóng, gió và bờ đảo bị xói

Mặt hồ rộng tạo điều kiện cho gió thổi qua một quãng dài, tạo sóng. Sóng hồ không lớn như sóng biển, nhưng đánh liên tục vào bờ đất bazan mềm, nhất là ở mép đảo hứng gió, làm bờ lở dần thành vách nhỏ. Mực nước lên xuống mỗi năm khiến chỗ bị sóng đánh thay đổi, nên xói diễn ra trên cả một dải cao độ chứ không chỉ một đường.

Kết quả nhìn thấy được là nhiều đảo có viền bờ trơ đất, cây sát mép bị bật gốc, có đảo nhỏ dần qua nhiều năm. Ở phía khuất gió, bờ thoải hơn và bùn lắng nhiều hơn. Người hay đi thuyền nhận ra điều này và thường neo thuyền ở phía khuất.

Với bất kỳ ai định dừng chân hay làm gì trên bờ đảo, chỗ vách lở là chỗ nguy hiểm: đất có thể sụt khi đứng gần mép, nhất là sau mưa. Giữ khoảng cách với mép vách và không neo thuyền sát dưới vách là nguyên tắc chung.

Câu hỏi thường gặp

Hồ Tà Đùng có bao nhiêu đảo?

Thường được nói là hàng chục đảo lớn nhỏ. Không có con số cố định trong đời sống vì số đảo đổi theo mực nước: mùa khô nhiều đảo nối bờ, mùa nước đầy một số mô đất nhỏ chìm hẳn. Con số đo đạc chính xác nên lấy từ nguồn quản lý hồ.

Đảo trên hồ Tà Đùng hình thành thế nào?

Khi đập Đồng Nai 3 tích nước, thung lũng sông và thung suối bị ngập. Những đỉnh đồi cao hơn mặt nước nhô lên thành đảo, sống đồi dài nối bờ thành bán đảo. Đảo vì vậy có dáng tròn, thoải, phủ cây như đồi bazan quanh hồ.

Mùa khô có đi bộ ra đảo được không?

Một số đảo nối bờ bằng doi đất khi nước thấp, nhưng nền thường là bùn khô, đất bán ngập, có chỗ lún. Đầu mùa mưa nước lên nhanh có thể cô lập người trên đảo. Nên hỏi người dân địa phương và không đi một mình.

Đất trên đảo thuộc về ai?

Đất trên đảo vẫn thuộc địa giới một xã và có loại đất theo hồ sơ địa chính: rừng, nông nghiệp, đất công trình hay hành lang hồ chứa. Muốn biết một hòn đảo cụ thể, phải tra hồ sơ địa chính và quy hoạch ở cơ quan có thẩm quyền.

Vì sao đảo Tà Đùng khác đảo vịnh Hạ Long?

Đảo vịnh Hạ Long là núi đá vôi dựng đứng trên biển, còn đảo hồ Tà Đùng là chóp đồi đất bazan bị nước hồ bao quanh. Vì vậy đảo ở đây tròn, thoải, phủ cây và đất đỏ, viền bờ thay đổi theo mùa nước.

Có được xây nhà trên mép đảo không?

Phần mép đảo nằm giữa mức nước cao và thấp là đất bán ngập, thường thuộc phạm vi quản lý hồ chứa, việc xây dựng bị hạn chế theo quy định về an toàn đập, hồ chứa nước. Mọi công trình phải có giấy phép theo đúng loại đất.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0918 83 22 83