TaDung.vnTà Đùng
Bản đồ vùng đất và vùng hồ

Địa hình xã Tà Đùng: cao nguyên bazan, đồi dốc, thung suối và lòng hồ

Địa hình Tà Đùng là cao nguyên bazan bị chia cắt: đồi tròn trồng cà phê, sườn dốc xuống thung suối, lòng hồ ngập thung lũng cũ và khối núi rừng cao.

Layered red basalt hills covered with coffee rows descending into a narrow green stream valley, a reservoir arm glinting in the background, late afternoon side light

Xã Tà Đùng nằm trên phần rìa của cao nguyên bazan Tây Nguyên, nơi mặt cao nguyên bị các dòng suối và sông Đồng Nai cắt xẻ thành những dải đồi tròn, sườn dốc và thung lũng hẹp. Ở giữa là lòng hồ Đồng Nai 3 ngập các thung lũng cũ; xa hơn là khối núi rừng cao mang tên Tà Đùng. Ba lớp địa hình này — đồi đất đỏ, thung suối, lòng hồ — quyết định người ta ở đâu, trồng gì, mở đường ra sao.

Mặt hồ khi đầy nằm ở độ cao khoảng sáu trăm mét so với mực nước biển theo các tài liệu giới thiệu công trình; đồi quanh hồ cao hơn từ vài chục tới vài trăm mét, còn khối núi rừng vươn lên cao hơn nhiều. Nhờ độ cao này, Tà Đùng mát hơn vùng đồng bằng, dù chưa lạnh như Đà Lạt.

Cao nguyên bazan: nền móng của vùng đất

Phần lớn cao nguyên Đắk Nông cũ hình thành từ những đợt phun trào bazan trong lịch sử địa chất, dung nham phủ lên nền đá cũ rồi phong hoá qua thời gian dài thành lớp đất đỏ dày. Đó là thứ đất mà người ta gọi là đất đỏ bazan: tơi, giữ ẩm khá, phù hợp cây lâu năm như cà phê, hồ tiêu, cây ăn trái. Ở Tà Đùng, bạn thấy màu đỏ này ở khắp nơi: trên đường đất mùa khô bụi bay, trên taluy mới xẻ, trên luống vườn vừa xới.

Không phải chỗ nào cũng là bazan dày. Ở những sườn dốc gắt, lớp đất mỏng hơn, đá lộ ra; ở ven suối có đất bồi, đất xám pha cát; ở vùng núi rừng, đất rừng có lớp mùn trên nền đá khác. Người làm vườn lâu năm phân biệt được những loại đất này bằng mắt và tay. Với người đọc bản đồ, chỉ cần nhớ: đồi tròn thoải thường là đất đỏ tốt, sườn dốc gắt và chỗ đá lộ là đất xấu và dễ xói.

Lớp đất đỏ dày cũng có mặt trái. Khi ngấm no nước mưa, nó nặng và dễ trượt trên sườn dốc, nhất là chỗ taluy mới cắt hay chỗ mất lớp cây phủ. Đây là lý do mùa mưa ở vùng đồi bazan hay có sạt lở, chuyện được nói kỹ trong danh mục khí hậu của trang.

Đồi tròn và sườn dốc: nơi người ta ở và trồng

Nhìn trên ảnh vệ tinh, phần đất liền của Tà Đùng giống một tấm vải nhăn: hàng trăm quả đồi tròn nối nhau, mỗi đồi được chia thành những mảng vườn theo đường đồng mức. Người dân gọi nôm na là đồi bát úp. Đỉnh và lưng đồi thoải là nơi trồng cà phê, tiêu, cây ăn trái; nhà ở thường nằm ven đường trên lưng đồi hoặc ở những chỗ đất bằng hơn.

Sườn dốc xuống thung suối thì khác. Độ dốc lớn khiến việc canh tác khó, đất dễ trôi, đi lại vất vả. Nhiều sườn như vậy còn rừng hoặc cây bụi, hoặc được trồng rừng sản xuất. Khi nhìn bản đồ địa hình, những chỗ đường đồng mức xếp sát nhau là chỗ sườn gắt; đường xã, đường thôn thường tránh những chỗ này hoặc phải đi vòng theo kiểu ziczac.

Chính cấu trúc đồi nối đồi này làm cho đường sá ở Tà Đùng quanh co. Hai quả đồi nhìn thì gần nhưng giữa là một thung suối sâu, muốn sang phải đi vòng xuống rồi leo lên. Người mới đến hay ngạc nhiên vì đi một quãng ngắn trên bản đồ mà mất nhiều thời gian; nguyên nhân là địa hình chứ không phải đường xấu.

Thung suối: nơi nước tụ và đổ về hồ

Giữa các đồi là những thung lũng hẹp có suối chảy. Mùa mưa, suối đầy nước, chảy xiết, mang bùn đất đỏ về hồ; mùa khô, nhiều suối nhỏ cạn còn những vũng nước, chỉ suối lớn giữ được dòng. Ven suối đất ẩm hơn, có nơi người dân trồng lúa nước nhỏ, rau, hoặc cây cần nhiều nước. Thung suối cũng là chỗ sương đọng dày nhất vào buổi sớm, vì không khí lạnh nặng hơn trôi xuống chỗ trũng.

Thung suối là chỗ dễ bị lũ quét nhất trong mùa mưa: khi mưa lớn trên đồi, nước dồn xuống thung hẹp rất nhanh. Nhà ở sát lòng suối, lối đi qua suối bằng đá kê hoặc cầu tạm là những chỗ cần cảnh giác. Người địa phương ít khi làm nhà sát mép suối vì hiểu điều này.

Khi lòng hồ Đồng Nai 3 tích nước, phần hạ lưu của nhiều thung suối bị ngập, biến thành những nhánh hồ ăn sâu vào đất liền. Vì thế trên bản đồ, mặt hồ có hình dạng như một cành cây với nhiều nhánh: mỗi nhánh là một thung lũng suối cũ.

Lòng hồ: thung lũng sông cũ bị ngập

Trước khi có hồ, sông Đồng Nai chảy trong một thung lũng sâu với hai bên là đồi dốc. Khi nước dâng, mặt nước lan tới một cao độ nhất định, ngập toàn bộ phần thấp hơn, chỉ để lại những đỉnh đồi cao hơn mặt nước thành đảo. Đây là lý do hồ có nhiều đảo và bán đảo, bờ hồ quanh co, có vịnh, có mũi đất.

Hình dạng của hồ thay đổi theo mùa. Cuối mùa mưa, hồ đầy, nước tràn tới sát chân đồi; cuối mùa khô, nước rút, lộ ra dải đất bán ngập màu nâu đỏ quanh bờ, có nơi đảo nối liền với bờ bằng một doi đất. Vì thế bản đồ vệ tinh chụp vào mùa nào sẽ cho hình hồ của mùa ấy; hai ảnh chụp cách nhau nửa năm có thể trông khác nhau đáng kể ở những vùng bờ thoải.

Dưới lòng hồ vẫn còn dấu vết của thung lũng cũ: lòng sông, gốc cây, đường mòn. Những thứ này không thấy được khi hồ đầy, nhưng lộ ra một phần khi nước xuống thấp. Với người đi thuyền, đây là lý do phải theo luồng quen, không chạy tự do ở vùng nước nông cuối mùa khô.

Ba lớp địa hình và chuyện sống trên đó

Bảng dưới gom địa hình Tà Đùng thành ba lớp lớn, cùng với những việc mà mỗi lớp quy định trong đời sống người dân. Đây là khái quát; trên thực tế, các lớp đan xen nhau trong từng thôn.

Lớp địa hìnhĐặc điểmThường dùng làm gìĐiều cần để ý
Đồi tròn đất đỏThoải, đất dày, thoát nước tốtVườn cà phê, tiêu, cây ăn trái; nhà ven đườngXói mòn nếu đất trống; bụi đỏ mùa khô
Sườn dốc và thung suốiDốc gắt, ẩm, sương đọngRừng, cây bụi, ruộng nhỏ ven suốiSạt lở, lũ quét khi mưa lớn; đường vòng
Lòng hồ và bờ hồMặt nước rộng, bờ đổi theo mùaĐánh bắt, nuôi cá, đi thuyền, đất bán ngậpHành lang hồ chứa; nước sâu, lạnh; mực nước thay đổi
Khối núi rừngCao, dốc, rừng phủRừng đặc dụng của Vườn quốc giaVào rừng phải theo quy định quản lý rừng

Nhìn bảng, bạn sẽ thấy vì sao dân cư Tà Đùng tập trung trên các lưng đồi thoải dọc đường, còn sườn dốc, thung suối và vùng núi thưa người.

Địa hình nói gì với người mới tới

Người lên Tà Đùng để ở lâu, làm vườn hay chỉ tìm hiểu vùng đất có thể rút ra vài điều thực tế từ địa hình. Thứ nhất, đi lại luôn mất thời gian hơn khoảng cách trên bản đồ, vì đường vòng theo đồi. Thứ hai, thời tiết trong cùng một xã có thể khác nhau: thung suối lạnh và nhiều sương hơn lưng đồi, ven hồ ẩm và nhiều gió hơn chỗ khuất. Thứ ba, chỗ nào sườn dốc gắt, đất mới san gạt, gần suối thì cẩn trọng trong mùa mưa.

Những điều này không phải để ngại vùng đất, mà để hiểu nó. Người bản địa và người đến lập nghiệp lâu năm ở Tà Đùng đã quen sống với địa hình đồi dốc: chọn chỗ làm nhà, đường thoát nước, giữ cây phủ đất. Đọc địa hình trước là cách nhanh nhất để không mắc những lỗi mà người ở lâu đã tránh từ lâu.

Khối núi rừng: vùng cao nhất, ít người nhất

Khác với đồi tròn trồng cà phê, vùng núi rừng mang tên Tà Đùng là khối địa hình cao và dốc, rừng phủ dày. Trên bản đồ địa hình, nó hiện ra như một vùng đường đồng mức xoắn chặt quanh những đỉnh nhọn. Đây là phần lõi của khu rừng mang tên Tà Đùng, nơi được bảo vệ làm rừng đặc dụng. Đường giao thông gần như không vào sâu được; ở đây chỉ có lối mòn tuần tra rừng và những con suối đầu nguồn.

Vùng núi này quan trọng với cả xã theo một cách ít ai thấy: nó là nơi giữ nước. Mưa trên núi ngấm vào lớp đất rừng, rồi nhả dần ra các suối chảy qua thôn, xuống hồ. Rừng còn tốt thì suối mùa khô còn nước; rừng mất thì suối đục mùa mưa, cạn mùa khô. Vì vậy bản đồ địa hình của Tà Đùng không thể đọc tách khỏi bản đồ rừng.

Với người dân, khối núi là phông nền thường thấy ở chân trời: mùa mưa, mây hay tụ quanh các đỉnh núi từ trưa, và khi mây núi sẫm lại thì cơn mưa chiều thường không còn xa. Với người ngoài, đây không phải nơi tự ý đi vào; mọi hoạt động trong rừng đặc dụng phải theo quy định của Vườn quốc gia và Luật Lâm nghiệp.

Địa hình vẽ nên mạng đường và chỗ ở

Nếu chồng bản đồ đường lên bản đồ địa hình, bạn sẽ thấy đường ở Tà Đùng đi theo một logic rõ ràng. Quốc lộ 28 chạy theo các sống đồi, tránh thung sâu, vòng qua những chỗ dễ làm nhất. Đường xã tách ra từ quốc lộ, cũng bám sống đồi để xuống gần mặt hồ hay vào các cụm dân cư. Đường thôn và đường vườn thì len theo đường đồng mức, lên xuống từng quả đồi.

Nhà ở theo đường. Ở vùng đồi, người ta làm nhà sát đường để tiện chở nông sản, kéo điện, đi học; vườn trải ra phía sau, xuống tới thung suối. Vì vậy trên ảnh vệ tinh, các cụm mái nhà xếp thành chuỗi dọc đường, còn khoảng giữa các chuỗi là vườn và rừng. Kiểu cư trú này khác hẳn làng đồng bằng tụ quanh một trung tâm.

Khi Tà Đùng có thêm khách đến và người đến ở, những vị trí trên đồi cao nhìn ra hồ được chú ý hơn. Nhưng logic địa hình không đổi: đường lên đỉnh đồi càng dốc, mùa mưa càng khó đi, chi phí làm đường, kéo điện, đưa nước càng lớn. Đọc địa hình trước giúp hiểu vì sao những chỗ đẹp nhất thường cũng là những chỗ khó sống nhất.

Câu hỏi thường gặp

Tà Đùng cao bao nhiêu mét so với mực nước biển?

Không có một con số duy nhất vì địa hình chênh nhau nhiều. Mặt hồ khi đầy nằm ở độ cao khoảng sáu trăm mét theo tài liệu giới thiệu công trình thủy điện; đồi quanh hồ cao hơn vài chục tới vài trăm mét, khối núi rừng cao hơn nữa.

Đất ở Tà Đùng là đất gì?

Phần lớn là đất đỏ bazan trên các đồi thoải, rất hợp cây lâu năm. Ngoài ra có đất mỏng lẫn đá ở sườn dốc, đất bồi pha cát ven suối và đất rừng có lớp mùn ở vùng núi. Muốn biết chính xác cho một thửa, nên lấy mẫu phân tích.

Vì sao hồ Tà Đùng có nhiều đảo?

Vì hồ là thung lũng sông bị ngập. Khi nước dâng tới cao độ thiết kế, các đỉnh đồi cao hơn mặt nước còn nhô lên thành đảo, còn những dãy đồi nối bờ thành bán đảo. Mùa nước thấp, một số đảo nối liền với bờ bằng doi đất.

Đường ở Tà Đùng có dốc nhiều không?

Có. Vì địa hình đồi nối đồi xen thung suối, đường xã, đường thôn thường lên xuống dốc và quanh co. Đi xe nên quen số thấp khi lên và xuống dốc, cẩn thận hơn khi mặt đường phủ đất đỏ sau mưa.

Chỗ nào ở Tà Đùng dễ sạt lở?

Theo nguyên lý chung của vùng đồi bazan, những chỗ dễ sạt là taluy mới cắt, sườn dốc mất cây phủ, nền san lấp chưa ổn định và bờ hồ đất mềm. Khi có mưa lớn kéo dài, nên tránh ở và đi qua những nơi như vậy.

Địa hình ảnh hưởng tới thời tiết trong xã ra sao?

Thung suối và vùng trũng thường lạnh hơn và nhiều sương hơn lưng đồi vào sáng sớm, vì khí lạnh dồn xuống chỗ thấp. Ven hồ ẩm và gió hơn. Vì vậy hai thôn trong cùng xã có thể cảm nhận thời tiết khác nhau.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0918 83 22 83