Người M'Nông và người Mạ là hai dân tộc riêng trong 54 dân tộc Việt Nam, cùng là cư dân bản địa của vùng thượng nguồn sông Đồng Nai quanh Tà Đùng. Hai dân tộc gần nhau về tiếng nói (cùng nhánh Môn – Khmer), cùng gọi làng là bon, cùng sống bằng rẫy và rừng; nhưng khác nhau về vùng cư trú gốc, các nhóm địa phương, cách tổ chức gia đình và nhiều nét trong trang phục, nghi lễ.
Người M'Nông cư trú chủ yếu ở vùng Đắk Nông cũ và một phần Đắk Lắk, Bình Phước; người Mạ cư trú chủ yếu ở vùng Lâm Đồng cũ (Bảo Lộc, Bảo Lâm, Đạ Huoai, Cát Tiên, Di Linh) và lan sang phía Đắk Nông cũ. Vùng Tà Đùng, nằm ngay ranh giới hai tỉnh cũ quanh sông Đồng Nai, là nơi hai cộng đồng gặp nhau. Bài này giúp phân biệt mà không rơi vào khuôn sáo.
Vì sao Tà Đùng là nơi hai cộng đồng gặp nhau
Sông Đồng Nai đoạn thượng nguồn từng là ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Đắk Nông cũ và tỉnh Lâm Đồng cũ. Về phía bắc và tây sông là vùng cư trú truyền thống của người M'Nông; phía nam và đông sông, lên tới cao nguyên Di Linh, Bảo Lộc, là vùng của người Mạ, bên cạnh người Cơ Ho. Những thung lũng ven sông, nơi nay là hồ thủy điện Đồng Nai 3, là chỗ hai cộng đồng qua lại, trao đổi, kết hôn với nhau từ lâu.
Theo các tài liệu về huyện Đắk Glong cũ, cả người M'Nông và người Mạ đều là cư dân bản địa của huyện. Ở vùng Đắk Som, Đắk R'Măng cũ, có bon của người M'Nông, có bon của người Mạ, có bon pha trộn. Muốn biết một bon cụ thể là của cộng đồng nào, cách chắc nhất vẫn là hỏi già làng.
Nay hai tỉnh cũ đã nhập thành tỉnh Lâm Đồng mới, ranh giới hành chính trên sông không còn. Về mặt văn hoá, điều này đưa hai cộng đồng vốn gần nhau vào cùng một tỉnh, thuận lợi hơn cho những hoạt động giữ gìn văn hoá chung.
So sánh nhanh người M'Nông và người Mạ
Bảng dưới gom những nét đã được ghi nhận rộng rãi trong tài liệu dân tộc học. Đây là nét chung của cả dân tộc; từng bon, từng gia đình hôm nay có thể khác nhiều.
| Khía cạnh | Người M'Nông | Người Mạ |
|---|---|---|
| Vùng cư trú gốc | Đắk Nông cũ, một phần Đắk Lắk, Bình Phước | Lâm Đồng cũ (Bảo Lộc, Bảo Lâm, Di Linh, Đạ Huoai, Cát Tiên), một phần Đắk Nông cũ, Đồng Nai |
| Tiếng nói | tiếng M'Nông, nhánh Bahnar phía Nam, Môn – Khmer | tiếng Mạ, cùng nhánh, gần tiếng Cơ Ho |
| Nhóm địa phương | nhiều nhóm như M'Nông Gar, M'Nông Nong, M'Nông Prâng, M'Nông Rlăm… | các nhóm như Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung |
| Gọi làng | bon | bon |
| Gia đình truyền thống | phần lớn theo mẫu hệ, con theo họ mẹ | tài liệu ghi nhận nhiều điểm khác M'Nông; nên hỏi trực tiếp cộng đồng |
| Nghề thủ công nổi bật | dệt vải, đan gùi, làm ché, rèn | dệt vải nổi tiếng, đan lát |
Tên các nhóm địa phương lấy theo cách ghi phổ biến trong tài liệu dân tộc học. Nhóm nào cư trú ở Tà Đùng chưa có khảo sát riêng được công bố rộng rãi, nên bài không gán nhóm cho bon cụ thể.
Người M'Nông: những nét chính
Người M'Nông là một trong những dân tộc bản địa đông nhất ở vùng Đắk Nông cũ. Đời sống truyền thống gắn với rẫy lúa luân canh, bon làng ven suối, nhà dài nhiều thế hệ cùng ở. Nhiều nhóm M'Nông theo chế độ mẫu hệ: con mang họ mẹ, chàng trai về ở nhà vợ sau cưới, tài sản truyền theo dòng nữ. Ở một số nhóm, mức độ mẫu hệ có khác.
Văn hoá M'Nông nổi bật với cồng chiêng, rượu cần, các lễ theo nông lịch, và kho sử thi truyền miệng được các nhà nghiên cứu sưu tầm, xuất bản nhiều tập. Vùng M'Nông xưa còn nổi tiếng với nghề săn, thuần dưỡng voi ở một số nhóm phía bắc, nhưng đó là nét của vùng khác, không phải của Tà Đùng.
Hôm nay, phần lớn gia đình M'Nông ở vùng Tà Đùng sống bằng cà phê, hồ tiêu, cây ăn trái như mọi hộ khác, nhà xây theo dự án định canh định cư hoặc tự xây. Những nét truyền thống còn rõ nhất nằm ở lễ cúng, tiếng nói, bộ chiêng, ché rượu trong các gia đình.
Người Mạ: những nét chính
Người Mạ cư trú lâu đời trên cao nguyên Di Linh – Bảo Lộc và dọc lưu vực sông Đồng Nai, ở cả hai bên bờ. Tài liệu dân tộc học thường chia người Mạ thành một số nhóm địa phương theo vùng cư trú như Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung. Nghĩa của từng tên nhóm có nhiều cách giải thích khác nhau giữa các tài liệu, nên ở đây chỉ nêu tên, không gán nghĩa.
Người Mạ nổi tiếng với nghề dệt vải trên khung dệt đeo lưng, hoa văn mảnh, màu nền tối điểm đỏ, trắng. Đan lát gùi, mẹt, giỏ cũng là nghề phổ biến của đàn ông. Như người M'Nông, người Mạ có cồng chiêng, rượu cần và các lễ theo mùa rẫy.
Ở vùng Tà Đùng, người Mạ không đông bằng ở các vùng phía Lâm Đồng cũ, nhưng có mặt trong một số bon và trong những gia đình kết hôn với người M'Nông. Những chuyện về gia đình, họ tộc của người Mạ có nhiều cách ghi nhận khác nhau trong tài liệu; khi cần chính xác, hỏi trực tiếp người trong cộng đồng là cách tôn trọng và đúng nhất.
Những hiểu lầm hay gặp khi nói về hai cộng đồng
“Người M'Nông và người Mạ là một.” Không đúng. Đây là hai dân tộc khác nhau trong danh mục chính thức, tuy gần nhau về ngôn ngữ và nhiều nét văn hoá. Gộp làm một làm mất đi điều mà chính hai cộng đồng coi là bản sắc của mình.
“Người bản địa ở Tà Đùng là người Ê Đê.” Không đúng. Người Ê Đê cư trú chủ yếu ở vùng Buôn Ma Thuột và Đắk Lắk; ở vùng Tà Đùng, cư dân bản địa là M'Nông và Mạ. Dùng chữ buôn thay cho bon cũng là dấu hiệu nhầm hai vùng.
“Đồng bào bản địa thì đều theo mẫu hệ.” Không chính xác. Mẫu hệ rõ ở người Ê Đê, Gia Rai và nhiều nhóm M'Nông; các dân tộc khác có cách tổ chức gia đình riêng. Muốn nói về gia đình của một cộng đồng, cần dựa trên tài liệu về chính cộng đồng ấy.
“Văn hoá bản địa chỉ còn trong bảo tàng.” Không đúng. Nhiều nét vẫn sống trong gia đình: tiếng nói, lễ cúng theo mùa, bộ chiêng, bếp lửa, món ăn. Chúng thay đổi theo thời gian chứ không biến mất.
Tên bon, tên người: dấu hiệu nhận ra cộng đồng
Tên bon thường là tiếng M'Nông hoặc tiếng Mạ, phiên ra chữ Quốc ngữ, có khi kèm dấu nháy. Nhiều tên gắn với suối, núi, cây cối hay một sự kiện của làng. Tên người cũng có những dấu hiệu: ở vùng Đắk Nông cũ, người M'Nông hay có họ Điểu, hoặc tên bắt đầu bằng Y với nam, H' với nữ; ở vùng Lâm Đồng cũ, người Mạ và Cơ Ho hay có chữ K' trước tên nam, Ka trước tên nữ.
Những dấu hiệu này chỉ là xu hướng, không phải quy tắc tuyệt đối. Có người M'Nông mang chữ K', có người Mạ mang họ khác, và nhiều người trẻ có tên tiếng Việt hoàn toàn. Đoán dân tộc qua tên dễ sai; hỏi thẳng một cách lịch sự vẫn là cách tốt nhất.
Với người làm giấy tờ, viết đúng tên đồng bào, kể cả dấu nháy và chữ hoa, là điều quan trọng. Một chữ sai trên giấy khai sinh hay sổ đỏ có thể khiến người dân phải đi lại nhiều lần để đính chính.
Hai cộng đồng hôm nay: thay đổi chung, giữ gìn riêng
Người M'Nông và người Mạ ở vùng Tà Đùng đều trải qua những thay đổi lớn trong vài chục năm: từ rẫy luân canh sang vườn cây lâu năm, từ bon trong rừng ra khu định canh định cư, từ nhà gỗ sang nhà xây, từ bếp lửa giữa nhà sang bếp riêng. Hồ thủy điện làm một số bon dời chỗ lần nữa. Những thay đổi này giống nhau ở cả hai cộng đồng.
Điều mỗi cộng đồng giữ thì có nét riêng: bộ chiêng và lễ cúng của bon M'Nông, khung dệt của phụ nữ Mạ, tiếng nói trong nhà, những món ăn mùa măng, mùa cá. Các hoạt động văn hoá do xã, tỉnh tổ chức như hội diễn cồng chiêng, trưng bày thổ cẩm là dịp hai cộng đồng thể hiện mình.
Với người ngoài, cách tôn trọng tốt nhất là gọi đúng tên, không trộn hai cộng đồng làm một, không biến văn hoá của họ thành đạo cụ chụp ảnh, và khi muốn tìm hiểu thì hỏi chính người trong bon.
Tìm hiểu thêm về người M'Nông, người Mạ ở đâu cho đáng tin
Nguồn đáng tin đầu tiên là chính cộng đồng: già làng, nghệ nhân, những người lớn tuổi trong bon. Nguồn thứ hai là bảo tàng cấp tỉnh: bảo tàng ở Gia Nghĩa của tỉnh Đắk Nông cũ và Bảo tàng Lâm Đồng ở Đà Lạt có các bộ sưu tập hiện vật về người M'Nông, người Mạ, Cơ Ho.
Nguồn thứ ba là sách nghiên cứu dân tộc học, các công trình sưu tầm sử thi M'Nông, các tập sách về văn hoá Mạ của những nhà nghiên cứu ở Lâm Đồng. Khi đọc, để ý năm xuất bản và vùng khảo sát, vì những gì ghi ở một vùng có thể không đúng với vùng khác.
Nên thận trọng với thông tin trên mạng xã hội, nhất là những bài gán truyền thuyết, ý nghĩa tên gọi mà không dẫn nguồn. Một cách kiểm đơn giản là hỏi lại người trong cộng đồng: nếu họ chưa từng nghe, khả năng cao đó là chuyện thêm thắt.
Hai cộng đồng gặp nhau: hôn nhân, trao đổi và sống chung
Sống cạnh nhau hàng trăm năm dọc sông Đồng Nai, người M'Nông và người Mạ có quan hệ qua lại rất lâu đời: trao đổi hàng hoá như muối, vải, ché, chiêng; giúp nhau mùa rẫy; kết hôn với nhau. Trong một số gia đình ở vùng Tà Đùng, cha là người dân tộc này, mẹ là người dân tộc kia, con cái nói được cả hai tiếng.
Khi hai dân tộc có cách tổ chức gia đình khác nhau kết hôn, câu hỏi con theo họ ai, vợ chồng ở nhà ai, tài sản chia ra sao được giải quyết bằng thoả thuận giữa hai gia đình, có khi qua già làng hai bên. Ngày nay, các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về quyền bình đẳng của vợ chồng là khung chung, còn phong tục là phần mềm mỏng hơn nằm bên trong.
Sự gần gũi ấy cũng là lý do người ngoài hay nhầm hai cộng đồng làm một. Nhìn từ bên trong, chính sự khác nhau nhỏ, như một hoa văn trên vải hay một cách gọi người thân, là điều người ta tự hào nhắc tới.
Câu hỏi thường gặp
Người Mạ có phải là một nhánh của người M'Nông không?
Không. Người Mạ và người M'Nông là hai dân tộc riêng trong danh mục 54 dân tộc Việt Nam. Hai dân tộc cùng thuộc nhánh Bahnar phía Nam của ngữ hệ Môn – Khmer nên gần nhau về tiếng nói, nhưng có vùng cư trú gốc, nhóm địa phương và nhiều phong tục riêng.
Ở Tà Đùng người M'Nông đông hơn hay người Mạ đông hơn?
Không có số liệu riêng được công bố rộng rãi cho xã Tà Đùng mới. Nhìn chung vùng Đắk Nông cũ có nhiều người M'Nông hơn, còn người Mạ đông ở phía Lâm Đồng cũ. Cần con số chính xác thì hỏi ủy ban xã hoặc cơ quan thống kê tỉnh Lâm Đồng.
Vì sao làng của người M'Nông, người Mạ gọi là bon?
Bon là từ chỉ làng trong tiếng của người M'Nông, người Mạ và một số dân tộc gần gũi ở phía nam Tây Nguyên. Người Ê Đê ở Đắk Lắk gọi làng là buôn, người Ba Na, Xơ Đăng phía bắc Tây Nguyên gọi là plei hoặc kon.
Người M'Nông có theo chế độ mẫu hệ không?
Phần lớn các nhóm M'Nông theo chế độ mẫu hệ: con mang họ mẹ, người chồng thường về ở nhà vợ, tài sản truyền theo dòng nữ. Mức độ có khác giữa các nhóm và đã thay đổi nhiều trong đời sống hôm nay, nhất là khi kết hôn với người dân tộc khác.
Có thể xem trang phục, thổ cẩm của người Mạ, người M'Nông ở đâu?
Có thể xem ở bảo tàng cấp tỉnh, ở các hội diễn văn hoá dân tộc của xã, tỉnh, hoặc trong các gia đình còn giữ khung dệt. Muốn xem trong nhà dân, hãy hỏi trước qua người quen hoặc trưởng bon và tôn trọng nếu gia đình từ chối.
Nói người M'Nông là người Thượng có được không?
Không nên. Từ người Thượng là cách gọi gộp cũ, mang sắc thái phân biệt và không chỉ đúng dân tộc nào. Gọi đúng tên dân tộc như người M'Nông, người Mạ, hoặc đồng bào dân tộc thiểu số khi nói chung, là cách lịch sự và chính xác.