TaDung.vnTà Đùng
Dân cư và các dân tộc

Người Kinh ở Tà Đùng đến từ đâu: khai hoang, cà phê, công trình và theo hồ

Người Kinh ở xã Tà Đùng lên theo bốn lớp: khai hoang sau 1975, cà phê thập niên 1990, công trình đường và thủy điện, người thành phố theo hồ; quê gốc, nghề, nếp sống.

Small roadside grocery shop porch at the edge of a highland commune center, sacks of fertilizer stacked, a shopkeeper arranging goods with her back turned, early morning haze

Người Kinh ở xã Tà Đùng (Lâm Đồng, gồm Đắk Som và Đắk R'Măng cũ) không đến cùng một lúc mà theo ít nhất bốn lớp: lớp khai hoang và theo nông trường, lâm trường sau 1975; lớp lên trồng cà phê khi cây này thành nguồn sống chính của Tây Nguyên, rõ nhất từ thập niên 1990; lớp theo các công trình làm đường và thủy điện rồi ở lại; và lớp người thành phố lên theo cảnh hồ trong khoảng mười năm gần đây.

Quê gốc của họ trải khắp các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, các tỉnh miền Trung và cả miền Nam. Bài này phác lại từng lớp: đến khi nào, từ đâu, làm nghề gì, sống ở đâu trong xã, và mang theo những nếp gì. Bài không nêu tỷ lệ người Kinh trong dân số xã vì số liệu đó cần lấy từ nguồn thống kê chính thức.

Lớp thứ nhất: khai hoang, nông trường, lâm trường

Sau 1975, Nhà nước đưa nhiều gia đình từ đồng bằng lên Tây Nguyên theo chương trình xây dựng vùng kinh tế mới, đồng thời lập các nông trường, lâm trường để khai thác và trồng rừng, trồng cây công nghiệp. Vùng đất nay là xã Tà Đùng khi ấy thuộc tỉnh Đắk Lắk, rừng còn rất nhiều, dân cư thưa. Những người Kinh đầu tiên ở đây phần lớn là công nhân lâm trường, bộ đội chuyển ngành, và những hộ khai hoang theo chương trình.

Đời sống của lớp này những năm đầu rất khổ: sốt rét, thiếu lương thực, đường sá gần như không có. Nhiều hộ đã bỏ về quê, những hộ trụ lại trở thành những người biết rõ nhất lịch sử vùng đất. Con cháu họ hôm nay là lớp trung niên của các xóm người Kinh lâu đời trong xã.

Dấu vết của lớp này thấy ở các xóm có nếp nhà kiểu đồng bằng, vườn trước nhà có cây ăn trái, giếng đào, và những đám giỗ quy tụ cả họ từ khắp nơi về.

Lớp thứ hai: theo cây cà phê

Từ cuối thập niên 1980 và mạnh nhất trong thập niên 1990, cà phê vối trở thành cây làm giàu ở Tây Nguyên. Tin về đất đỏ, về những vườn cà phê cho thu hoạch lớn lan về các tỉnh đồng bằng, kéo theo một làn sóng người Kinh lên mua đất, mở rẫy. Nhiều người đi theo họ hàng, người cùng làng; có làng ở quê gần như có cả một nhánh họ trên Tây Nguyên.

Vùng Đắk Glong cũ, xa trung tâm, đất còn nhiều, là một trong những nơi đón lớp người này. Họ mua lại đất của người đến trước, của đồng bào, hoặc khai phá đất trống, có cả những vụ mua bán bằng giấy tay mà nay vẫn để lại hệ quả về giấy tờ. Lớp này đông, chiếm phần lớn các thôn vườn cà phê của người Kinh trong xã.

Nhịp sống của họ xoay quanh mùa cà phê: tưới mùa khô, bón phân đầu mưa, hái cuối năm, phơi và bán. Những năm giá cà phê lên thì xóm xây nhà mới, mua xe; năm giá xuống thì nhiều nhà phải vay nợ. Biến động ấy in dấu rõ trong đời sống của lớp người này.

Lớp thứ ba: theo đường sá và công trình thủy điện

Những công trình lớn trong vùng, từ nâng cấp các tuyến đường đến xây dựng thủy điện Đồng Nai 3, Đồng Nai 4 trên sông Đồng Nai, kéo theo hàng trăm công nhân, kỹ sư, người làm dịch vụ cho công trường. Phần lớn đi khi công trình xong, nhưng một số người ở lại: lấy vợ, lấy chồng người địa phương, mua đất làm vườn, mở tiệm.

Lớp này thường có nghề tay chân hoặc kỹ thuật: thợ hồ, thợ sửa máy, lái xe, thợ điện. Ở một xã nông nghiệp, họ là những người làm dịch vụ không thể thiếu: sửa máy bơm, sửa xe, xây nhà, lắp điện mặt trời. Nhiều người cũng tham gia nuôi cá lồng khi hồ có nước.

Vì đến muộn hơn, lớp này thường sống gần trung tâm xã hoặc dọc trục đường chính, nơi có việc làm dịch vụ. Họ là cầu nối giữa xã với các nơi khác qua những mối quen từ công trường.

Lớp thứ tư: người thành phố lên theo hồ

Từ cuối những năm 2010, cảnh hồ nhiều đảo của Tà Đùng được biết rộng, kéo theo một lớp người Kinh khác hẳn: người từ TP.HCM, Bình Dương cũ, Đồng Nai, Hà Nội lên mua đất ven hồ, dựng nhà nghỉ, làm nơi lưu trú, làm dịch vụ đưa khách. Có người lên ở hẳn, có người chỉ lên theo mùa, giao vườn cho người địa phương chăm.

Lớp này mang theo vốn, thói quen thành thị và cách làm du lịch. Họ tạo ra việc làm cho người địa phương, đồng thời đẩy giá đất ven hồ lên, thay đổi cảnh quan một số khu ven hồ. Va chạm về lối đi, về nước, về rác thải đôi khi xảy ra khi thói quen thành thị gặp nếp thôn bản.

Về số lượng, lớp này còn ít so với ba lớp trước, nhưng tập trung ở vài điểm nên dễ thấy. Những câu chuyện người thành phố lên sống ở Tà Đùng đã có nơi khác kể bằng giọng người trong cuộc; ở góc địa chí, chỉ cần ghi nhận đây là lớp cư dân mới nhất và đang thay đổi nhanh.

Bốn lớp người Kinh ở Tà Đùng nhìn nhanh

Bảng dưới gom bốn lớp theo những nét dễ nhận ra. Mốc thời gian ghi theo thập niên, vì mỗi xóm, mỗi gia đình có thời điểm đến khác nhau.

LớpĐến khoảngQuê gốc hay gặpNghề chínhThường ở đâu
Khai hoang, nông – lâm trườngsau 1975, thập niên 1980đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộlàm rẫy, lâm nghiệp, sau chuyển cà phêcác xóm lâu đời gần trục đường
Theo cây cà phêcuối 1980, thập niên 1990, 2000Bắc Bộ, Thanh Nghệ, miền Trungtrồng cà phê, hồ tiêu, cây ăn tráithôn vườn trên đồi
Theo công trìnhnhững năm 2000 – 2010nhiều tỉnhthợ, dịch vụ kỹ thuật, nuôi cátrung tâm xã, ven trục đường
Theo hồtừ cuối những năm 2010TP.HCM, Đông Nam Bộ, Hà Nộilưu trú, dịch vụ khách, vườn nghỉ dưỡngcác khu ven hồ

Quê gốc trong bảng là xu hướng hay gặp, không phải thống kê. Trong thực tế mỗi xóm có người từ rất nhiều tỉnh.

Quê gốc trên đất mới: giỗ chạp, hội đồng hương, món ăn

Người Kinh ở Tà Đùng giữ quê gốc theo nhiều cách. Rõ nhất là giỗ chạp: ngày giỗ ông bà, người trong họ ở rải rác các thôn, các xã lân cận tụ về một nhà, nấu những món quê, nói giọng quê. Tết Nguyên đán, người gốc Bắc gói bánh chưng, người gốc miền Trung và miền Nam gói bánh tét, có nhà làm cả hai.

Ở nhiều nơi trên Tây Nguyên có hội đồng hương của người cùng tỉnh, cùng huyện, gặp nhau vào dịp Tết hoặc khi có việc hiếu hỉ. Những hội này không phải tổ chức chính thức, nhưng là chỗ dựa khi có người ốm đau, tai nạn, cần giúp đỡ.

Món ăn quê cũng theo lên: dưa cà, tương, mắm của người Bắc; mắm ruốc, bánh xèo của người Quảng; cá kho của người miền Tây. Trộn với rau rừng, măng, cá hồ của vùng mới, mâm cơm người Kinh ở Tà Đùng là một mâm cơm pha.

Sống cạnh đồng bào: những mối nối và những điểm cần tôn trọng

Người Kinh ở Tà Đùng sống xen với đồng bào bản địa và đồng bào phía Bắc trong cùng thôn, cùng chợ, cùng trường. Mối nối mạnh nhất là kinh tế: thuê nhau hái cà phê, mua bán nông sản, vật tư, vay mượn. Hôn nhân giữa người Kinh và đồng bào cũng ngày càng nhiều.

Điểm cần tôn trọng nằm ở đất và văn hoá. Trong quá khứ, việc mua bán đất giữa người Kinh với đồng bào bằng giấy tay, giá thấp, đã để lại cảm giác thiệt thòi ở một số cộng đồng. Người Kinh mới lên nên hiểu điều này để làm ăn minh bạch, làm đủ thủ tục, trả công đúng hẹn.

Về văn hoá, người Kinh là đa số trong nhiều hoạt động chung nên dễ vô tình áp nếp của mình lên người khác: tổ chức họp vào ngày lễ của đồng bào, coi nhẹ vai trò già làng, gọi tên sai. Những điều nhỏ này, sửa được thì quan hệ hàng xóm sẽ khác hẳn.

Thế hệ sinh ra ở Tà Đùng: không còn là người nơi khác

Con cháu của các lớp người Kinh lên Tà Đùng giờ đã là thế hệ thứ hai, thứ ba. Họ sinh ra ở đây, học ở trường xã, đi học tiếp ở Gia Nghĩa, Đà Lạt, TP.HCM, rồi một phần quay về làm vườn, làm dịch vụ, một phần ở lại thành phố. Với họ, quê là Tà Đùng chứ không phải tỉnh của ông bà.

Lớp trẻ này nói giọng pha, quen món ăn của nhiều dân tộc, có bạn bè người M'Nông, người Mông từ nhỏ. Họ là thế hệ thấy rõ nhất sự đổi thay của vùng đất: từ đường đất sang đường bê tông, từ rẫy sang vườn, từ không ai biết tới đến chỗ có khách du lịch.

Khi nói về người Kinh ở Tà Đùng, nên nhớ rằng phần lớn họ không còn là “người nơi khác đến” mà là cư dân của vùng đất này, có chung nỗi lo về mùa màng, giá nông sản, đường sá, trường học với mọi cộng đồng khác trong xã.

Người Kinh ở trung tâm xã: chợ, tiệm và mạng lưới thu mua

Đi qua trung tâm xã Tà Đùng, phần lớn những tiệm tạp hoá, đại lý phân bón – thuốc bảo vệ thực vật, tiệm sửa xe, quán ăn, điểm thu mua cà phê, hồ tiêu là của người Kinh. Đây là một nét chung của nhiều xã Tây Nguyên: người Kinh nắm phần lớn khâu thương mại, trong khi sản xuất thì mọi cộng đồng cùng làm.

Mạng lưới thu mua hoạt động theo kiểu nhiều tầng: người mua nhỏ ở thôn gom hàng của các hộ, bán lại cho điểm thu mua ở trung tâm xã, từ đó hàng đi Gia Nghĩa hoặc các kho lớn hơn. Đại lý vật tư thường bán chịu phân bón đầu mùa, thu bằng nông sản cuối mùa. Quan hệ ấy giúp hộ nông dân có vốn xoay vòng, nhưng cũng dễ thành nợ dây dưa khi mất mùa, rớt giá.

Hiểu mạng lưới này giúp người mới lên Tà Đùng hiểu nhịp kinh tế của xã: tiền về nhiều nhất sau mùa hái cà phê, chợ đông nhất trước Tết, và những tiệm ở trung tâm là nơi tin tức trong xã lan nhanh nhất.

Tìm hiểu gốc gác một xóm người Kinh: những câu nên hỏi

Nếu bạn muốn ghi lại lịch sử một xóm người Kinh ở Tà Đùng, cho gia phả, cho một bài viết hay đơn giản để hiểu hàng xóm, có vài câu hỏi mở được nhiều chuyện: nhà mình lên năm nào, đi từ đâu, ai rủ lên, lúc đầu ở chỗ nào, đất mua của ai hay tự khai phá, xóm này ai đến trước nhất.

Những câu trả lời thường cho thấy cả một mạng lưới quê – họ: một người làng này lên trước, kéo theo chục hộ cùng làng; một ông bộ đội chuyển ngành ở lại, gọi anh em lên. Đối chiếu với các mốc hành chính (Đắk Lắk trước 2004, Đắk Nông từ 2004, huyện Đắk Glong từ 2005, xã Tà Đùng tỉnh Lâm Đồng từ 7/2025) sẽ biết lúc ấy nơi đó thuộc đơn vị nào.

Khi ghi chép, nên giữ đúng lời người kể, ghi tên làng quê gốc chính xác, và hỏi xin phép trước nếu định công bố chuyện của gia đình người khác.

Câu hỏi thường gặp

Người Kinh lên vùng Tà Đùng từ khi nào?

Lớp đầu tiên lên từ sau 1975 theo chương trình kinh tế mới và các nông trường, lâm trường. Làn sóng lớn nhất đến từ cuối thập niên 1980 và thập niên 1990 theo cây cà phê. Sau đó có thêm người theo các công trình đường, thủy điện và người thành phố lên theo hồ.

Người Kinh ở Tà Đùng chủ yếu quê ở đâu?

Quê gốc rất đa dạng: đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, các tỉnh miền Trung, miền Nam và gần đây là người từ TP.HCM, Đông Nam Bộ. Không có thống kê quê gốc được công bố cho xã, nên chỉ nói được là rất pha trộn.

Người Kinh ở Tà Đùng làm nghề gì?

Phần lớn trồng cà phê, hồ tiêu, cây ăn trái. Ở trung tâm xã và dọc trục đường, nhiều người buôn bán, thu mua nông sản, bán vật tư nông nghiệp, sửa xe, làm thợ. Ven hồ có người nuôi cá, làm dịch vụ lưu trú, đưa khách.

Có hội đồng hương ở Tà Đùng không?

Ở Tây Nguyên nói chung có nhiều hội đồng hương tự phát của người cùng tỉnh, cùng huyện, thường gặp nhau dịp Tết hoặc khi có việc hiếu hỉ. Hội nào đang sinh hoạt ở vùng Tà Đùng thì nên hỏi người cùng quê đang ở đây.

Người Kinh mới lên Tà Đùng sống cần lưu ý gì với hàng xóm đồng bào?

Làm ăn minh bạch, nhất là chuyện đất và tiền công; tôn trọng vai trò của già làng, trưởng họ; gọi đúng tên người và tên dân tộc; tránh tổ chức việc chung vào ngày lễ của đồng bào. Những điều này giúp được coi là hàng xóm chứ không phải người ngoài.

Thế hệ trẻ người Kinh ở Tà Đùng có ở lại không?

Một phần ở lại làm vườn, làm dịch vụ, nhất là khi du lịch quanh hồ mở thêm việc. Một phần đi học, đi làm ở Gia Nghĩa, Đà Lạt, TP.HCM, khu công nghiệp Đông Nam Bộ và ở lại thành phố. Xu hướng này giống nhiều xã nông nghiệp khác ở Tây Nguyên.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0918 83 22 83