Nhà ở thôn bản xã Tà Đùng hôm nay phần lớn là nhà xây cấp bốn mái tôn, xen với những ngôi nhà gỗ còn lại từ thời khai hoang, nhà sàn hoặc nhà đất của đồng bào bản địa ở các bon, và những căn nhà kiên cố hơn mọc lên sau các mùa cà phê được giá. Đặc trưng chung là nhà vườn trên đồi: quanh nhà có sân phơi xi măng, kho chứa nông sản, bếp riêng, chuồng gà, bồn nước, vườn cây ngay sau lưng.
Ngôi nhà ở đây kể lại lịch sử vùng đất: nhà tạm của người mới đến, nhà gỗ khi có chút vốn, nhà xây khi vườn đã cho thu ổn định; nhà tái định cư theo mẫu khi lòng hồ Đồng Nai 3 dâng nước; nhà sàn của bon gìn giữ nếp xưa. Bài này mô tả các kiểu nhà theo góc địa chí đời sống; chuyện xây nhà, giấy phép, mua đất thuộc các trang đất đai và nhà ở trong hệ Tà Đùng.
Từ nhà tạm tới nhà xây: ngôi nhà theo các đợt khai hoang
Người đến lập nghiệp ở vùng Đắk Som, Đắk R'Măng cũ trong những đợt đầu thường dựng nhà tạm bằng tre, nứa, lá, vách đất hay ván gỗ tận dụng từ đất khai hoang, mái lợp lá hoặc tôn. Nhà nhỏ, thấp, bếp củi ngay trong nhà để giữ ấm. Khi vườn cà phê bắt đầu cho thu, nhiều gia đình làm lại nhà gỗ chắc chắn hơn, có cột, có sàn gỗ hoặc nền láng xi măng.
Qua nhiều mùa cà phê, nhà gỗ dần được thay bằng nhà xây gạch, mái tôn, nền gạch men. Nhà xây cấp bốn là kiểu phổ biến nhất hiện nay: một gian chính rộng làm phòng khách, phòng thờ, vài phòng ngủ phía sau, hiên trước. Những năm cà phê, tiêu, sầu riêng được giá, xuất hiện nhà mái thái, nhà hai tầng ở trung tâm thôn, dọc đường lớn.
Nhìn một thôn ở Tà Đùng có thể thấy đủ các lớp ấy: nhà gỗ cũ được giữ làm kho hay chỗ ở của ông bà, nhà xây mới ở ngay cạnh; có nhà còn dựng tạm chờ đủ tiền. Ngôi nhà ở đây gắn chặt với vườn: mùa được giá thì xây, mùa mất giá thì hoãn.
Nhà của đồng bào bản địa ở các bon
Đồng bào M'Nông, Mạ xưa ở nhà dài hoặc nhà sàn, nhà trệt làm bằng gỗ, tre, nứa, mái tranh, có bếp lửa ở giữa là trung tâm của sinh hoạt gia đình. Nhà dài cho nhiều thế hệ cùng ở là nét quen thuộc của một số tộc người bản địa Tây Nguyên. Kiểu nhà cụ thể khác nhau giữa các nhóm và các vùng, nhiều tư liệu dân tộc học đã mô tả kỹ.
Ngày nay, ở các bon quanh Tà Đùng, phần lớn gia đình ở nhà xây hoặc nhà gỗ kiểu mới, có nhà được hỗ trợ xây theo các chương trình nhà ở cho hộ nghèo, hộ đồng bào. Nhà truyền thống còn lại ít, có nơi được giữ hoặc dựng lại làm nhà sinh hoạt cộng đồng, nơi tổ chức lễ của bon. Gian bếp với bếp lửa vẫn giữ vai trò quan trọng trong nhiều gia đình, kể cả trong ngôi nhà xây.
Với khách, ứng xử khi vào nhà đồng bào nên hỏi trước, không tự ý vào gian bếp, gian thờ hay sờ vào chiêng ché, đồ lễ. Những phép lịch sự này được người trong bon đánh giá cao hơn mọi món quà.
Các kiểu nhà thường gặp ở thôn bản Tà Đùng
Mô tả định tính các kiểu nhà phổ biến. Không có số liệu tỷ lệ từng kiểu; nhìn chung nhà xây cấp bốn mái tôn chiếm phần lớn ở các thôn.
| Kiểu nhà | Vật liệu chính | Thường gặp ở đâu | Đặc điểm sống |
|---|---|---|---|
| Nhà gỗ cũ | Gỗ, ván, mái tôn hoặc ngói | Nhà của hộ đến sớm, nay làm kho, nhà phụ | Mát mùa nắng, ấm khi có bếp, dễ mối mọt |
| Nhà xây cấp bốn mái tôn | Gạch, xi măng, tôn | Hầu hết các thôn | Xây nhanh, bền, mùa mưa ồn, mùa nắng nóng mái |
| Nhà mái thái, nhà hai tầng | Gạch, bê tông, ngói | Trung tâm thôn, dọc đường lớn | Kiên cố, chi phí cao |
| Nhà sàn, nhà truyền thống | Gỗ, tre, nứa | Một số bon, nhà sinh hoạt cộng đồng | Giữ nếp văn hoá, cần bảo dưỡng nhiều |
| Nhà tái định cư theo mẫu | Gạch, tôn | Khu tái định cư thủy điện, khu dân cư mới | Nhà giống nhau, nhiều nhà đã cơi nới |
| Chòi vườn, lán | Gỗ, tôn, bạt | Trong vườn xa, ven hồ | Ở tạm mùa hái, canh vườn |
Kiểu nhà còn tuỳ quê gốc của chủ nhà: người từ miền Bắc vào hay giữ gian thờ ở giữa, người miền Trung chuộng hiên rộng, đồng bào phía Bắc có nơi dựng nhà theo nếp quê cũ. Sự pha trộn ấy làm diện mạo thôn bản Tà Đùng không đồng nhất như làng đồng bằng.
Nhà tái định cư: những khu dân cư theo mẫu
Khi hồ thủy điện Đồng Nai 3 tích nước, những hộ sống trong vùng ngập được di dời tới các khu tái định cư theo dự án. Nhà ở các khu này thường xây theo mẫu, giống nhau về diện tích, kiểu mái, xếp thành dãy dọc đường quy hoạch. Kèm theo nhà là đất sản xuất được giao ở nơi mới.
Theo thời gian, nhiều căn nhà tái định cư đã được chủ nhà cơi nới: thêm gian bếp, thêm mái hiên, dựng chuồng trại, làm sân phơi. Có nơi người dân phản ánh đất sản xuất mới xa nhà hoặc kém màu mỡ hơn đất cũ, khiến một số hộ phải đi làm thuê hoặc mua thêm đất. Những chuyện tái định cư chung của cả vùng Đắk Glong cũ đã được nhiều tài liệu ghi lại; khu tái định cư cụ thể nằm ở thôn nào nên hỏi UBND xã. Ở nơi có khu như vậy, dấu vết dễ thấy nhất là những dãy nhà giống nhau giữa các thôn có nhà cửa đa dạng.
Quanh ngôi nhà: sân phơi, kho, bếp và bồn nước
Sân phơi. Sân xi măng rộng trước hoặc bên hông nhà là thứ không thể thiếu của nhà trồng cà phê, tiêu. Nhiều nhà sân phơi còn rộng hơn diện tích nhà ở; ngoài mùa phơi, sân là chỗ trẻ chơi, chỗ đỗ xe, chỗ dựng rạp đám cưới.
Kho chứa. Gian kho cất cà phê nhân, tiêu, phân bón, máy móc, ống tưới. Kho phải khô, kín mưa, có khoá, vì mùa hái nông sản trong nhà là tài sản lớn.
Bếp riêng. Nhiều nhà có gian bếp tách khỏi nhà chính, dùng bếp củi để nấu cám heo, nấu nước, sưởi ấm, và bếp gas trong nhà cho nấu ăn nhanh.
Bồn, bể nước. Bồn inox, nhựa trên giàn cao hoặc bể xi măng chứa nước mưa, nước giếng; là hình ảnh nhà nào cũng có.
Chuồng trại. Chuồng gà, chuồng heo, chuồng bò thường đặt phía sau hoặc phía dưới dốc so với nhà ở và giếng.
Vườn quanh nhà. Rau, chuối, cây ăn trái, cây gia vị trồng ngay quanh nhà cho bữa ăn hằng ngày.
Nhà của người mới đến và nhà nghỉ quanh hồ
Mấy năm gần đây, ở Tà Đùng xuất hiện một kiểu nhà khác hẳn nhà nông hộ: nhà nghỉ, nhà vườn của người từ thành phố lên mua đất, homestay, villa nhìn ra hồ. Kiểu nhà này thường có cửa kính lớn, hiên rộng, mái dốc, vật liệu gỗ, đá, đặt trên những sườn đồi có tầm nhìn xuống mặt nước.
Với thôn bản, những ngôi nhà mới đem lại việc làm cho thợ xây, người trông nhà, người làm vườn, nhưng cũng đặt ra chuyện chung: đường vào nhà chung với đường thôn, nước giếng, nước thải, tiếng ồn của khách. Những chủ nhà hoà nhập tốt thường là người góp tiền làm đường, thuê người trong thôn, giữ lối đi chung xuống hồ.
Phần chỗ ở cho khách thuộc các trang lưu trú trong hệ Tà Đùng; ở góc đời sống thôn bản, đây là lớp nhà mới nhất, làm diện mạo một số thôn ven hồ thay đổi nhanh hơn hẳn các thôn sâu trong đồi.
Nhà ở và chương trình hỗ trợ
Ở các xã vùng cao, nhiều căn nhà của hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số được xây hoặc sửa nhờ các chương trình hỗ trợ nhà ở của nhà nước, các đợt xoá nhà tạm, nhà dột nát và đóng góp của các tổ chức, doanh nghiệp. Nhà hỗ trợ thường là nhà xây nhỏ, mái tôn, đủ để ở ổn định qua mùa mưa.
Việc bình xét hộ được hỗ trợ làm công khai qua họp thôn, theo tiêu chí của chương trình. Gia đình có nhu cầu nên hỏi trưởng thôn, UBND xã về đợt hỗ trợ đang triển khai, giấy tờ cần chuẩn bị và phần gia đình phải tự góp.
Ở nhiều thôn, khi một nhà được hỗ trợ dựng nhà, bà con trong xóm góp công đào móng, khiêng vật liệu, dựng khung, theo nếp đổi công vốn có của nông thôn vùng cao. Một căn nhà nhỏ vì thế thường là công sức của cả xóm chứ không riêng một gia đình.
Sống trong nhà trên đồi: mát, ẩm và gió
Nhà ở độ cao vùng hồ có thuận lợi là mát quanh năm, ít khi cần quạt máy. Nhưng mùa mưa, độ ẩm cao, sương mù dày khiến tường ẩm, quần áo phơi lâu khô, đồ gỗ dễ mốc. Mùa khô, đêm lạnh, gió mạnh, bụi đỏ từ đường đất bay vào nhà. Nhà mái tôn mưa to thì ồn, trưa nắng thì nóng, nên nhiều nhà làm trần bằng tấm nhựa, tấm xốp hoặc trồng cây che.
Người lâu năm ở đây có những thói quen giữ nhà: mở cửa đón nắng sáng để hong khô, đóng cửa sớm buổi chiều để giữ ấm, dùng bếp củi sưởi những đêm lạnh nhất, kê đồ đạc cách tường ẩm, phơi chăn màn mỗi khi có nắng. Nhà trên dốc thì luôn để ý rãnh nước quanh nhà và taluy phía sau.
Với người mới đến xây nhà nghỉ ở Tà Đùng, kinh nghiệm của nông hộ địa phương về gió, nắng, nước mưa trên từng sườn đồi là thứ đáng hỏi trước khi chọn hướng nhà, chọn mái.
Nhà ở và giấy tờ sau sáp nhập
Sau khi Đắk Som, Đắk R'Măng nhập thành xã Tà Đùng và Đắk Nông nhập vào Lâm Đồng, địa chỉ nhà ở của người dân đổi theo đơn vị hành chính mới; tên thôn có thể giữ nguyên hoặc được sắp xếp lại. Số nhà ở nông thôn vùng cao nhiều nơi chưa có, địa chỉ thường chỉ ghi tên thôn, xã, tỉnh.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ghi địa danh cũ vẫn có giá trị; việc cập nhật làm theo hướng dẫn của cơ quan đất đai khi có giao dịch hoặc khi người dân có nhu cầu. Phần thủ tục đổi địa chỉ trên giấy tờ thuộc mục hành chính và dịch vụ công của trang; phần pháp lý mua bán nhà đất thuộc các trang đất đai trong hệ Tà Đùng.
Một lưu ý thực tế: khi nhận thư, hàng, giấy tờ gửi qua bưu chính, ghi rõ tên thôn và một mốc dễ tìm như gần trường, gần nhà văn hoá giúp người giao tìm được nhà, vì ở thôn đồi nhiều nhà nằm sâu trong vườn, không thấy từ đường.
Câu hỏi thường gặp
Nhà ở các thôn Tà Đùng chủ yếu là nhà gì?
Phần lớn là nhà xây cấp bốn mái tôn, xen với nhà gỗ cũ từ thời khai hoang, nhà sàn hoặc nhà truyền thống ở một số bon đồng bào, nhà tái định cư theo mẫu và một số nhà kiên cố hai tầng ở trung tâm thôn, dọc đường lớn.
Vì sao nhà ở Tà Đùng nào cũng có sân phơi lớn?
Vì phần lớn nông hộ trồng cà phê, tiêu và tự phơi nông sản sau thu hoạch. Sân phơi xi măng rộng giúp chủ động phơi khô, giữ chất lượng hạt; ngoài mùa phơi, sân dùng làm chỗ sinh hoạt, đỗ xe, dựng rạp.
Nhà sàn truyền thống của đồng bào ở Tà Đùng còn không?
Còn ít. Phần lớn gia đình đồng bào nay ở nhà xây hoặc nhà gỗ kiểu mới; nhà truyền thống có nơi được giữ hoặc dựng lại làm nhà sinh hoạt cộng đồng của bon. Gian bếp lửa vẫn quan trọng trong nhiều gia đình.
Nhà tái định cư thủy điện ở Tà Đùng như thế nào?
Nhà ở các khu tái định cư khi hồ Đồng Nai 3 tích nước thường xây theo mẫu, xếp thành dãy, kèm đất sản xuất ở nơi mới. Theo thời gian, nhiều căn đã được cơi nới thêm bếp, hiên, sân phơi, chuồng trại.
Ở nhà trên đồi vùng hồ cần để ý gì mùa mưa?
Để ý rãnh thoát nước quanh nhà, taluy phía sau, mái tôn và vít mái trước mùa giông, chống ẩm mốc cho đồ đạc. Khi thấy vết nứt mới trên taluy hay nền nhà sau mưa lớn, báo trưởng thôn và chính quyền xã ngay.