Ở xã Tà Đùng (Lâm Đồng), tiếng phổ thông là tiếng chung ở chợ, trụ sở, trường học; nhưng trong nhà và trong thôn, người ta còn nói ít nhất ba nhóm ngôn ngữ khác nhau: tiếng M'Nông và tiếng Mạ thuộc nhóm Môn – Khmer của đồng bào bản địa; tiếng Mông, tiếng Dao thuộc nhóm Hmông – Dao; tiếng Tày, tiếng Nùng thuộc nhóm Tày – Thái của đồng bào phía Bắc vào lập nghiệp.
Thêm vào đó là tiếng Việt với đủ giọng Bắc, Trung, Nam của người Kinh từ nhiều tỉnh. Bài này vẽ lại bản đồ tiếng nói ấy, giải thích vì sao nó quan trọng với trường học, y tế, hành chính, và gợi ý cách người ngoài có thể giao tiếp tử tế với các cộng đồng. Bài không nêu số người nói từng tiếng, vì không có số liệu riêng đáng tin cho xã mới.
Các tiếng nói ở Tà Đùng thuộc những nhóm nào
Ngôn ngữ học xếp các tiếng nói ở Việt Nam thành nhiều ngữ hệ và nhóm. Ở Tà Đùng, chỉ trong một xã đã có mặt ít nhất bốn nhóm khác nhau, điều hiếm thấy ở những vùng đồng bằng.
| Tiếng nói | Nhóm ngôn ngữ | Ai nói | Đặc điểm dễ nhận ra |
|---|---|---|---|
| Tiếng M'Nông | Môn – Khmer (nhánh Bahnar phía Nam) | đồng bào M'Nông bản địa | nhiều phụ âm đầu ghép, không có thanh điệu như tiếng Việt |
| Tiếng Mạ | Môn – Khmer (nhánh Bahnar phía Nam) | đồng bào Mạ bản địa | gần với tiếng Cơ Ho, người hai bên có thể hiểu nhau một phần |
| Tiếng Mông | Hmông – Dao | đồng bào Mông từ phía Bắc vào | nhiều thanh điệu, chữ viết Latin đánh dấu thanh bằng chữ cái cuối |
| Tiếng Dao | Hmông – Dao | đồng bào Dao từ phía Bắc vào | có nhiều nhóm phương ngữ khác nhau |
| Tiếng Tày, tiếng Nùng | Tày – Thái | đồng bào Tày, Nùng từ phía Bắc vào | có thanh điệu, nhiều từ gần nhau giữa hai tiếng |
| Tiếng Việt | Việt – Mường | người Kinh và là tiếng chung của mọi người | giọng pha nhiều miền tuỳ quê gốc |
Xếp nhóm ở đây theo cách phân loại phổ biến trong các tài liệu ngôn ngữ học về Việt Nam. Ranh giới giữa các phương ngữ cụ thể ở Tà Đùng chưa được khảo sát riêng, nên bảng chỉ dừng ở mức nhóm.
Tiếng M'Nông và tiếng Mạ: hai tiếng của chủ nhân cũ
Tiếng M'Nông và tiếng Mạ là hai ngôn ngữ riêng, cùng thuộc nhánh Bahnar phía Nam trong ngữ hệ Môn – Khmer, cùng nhánh với tiếng Cơ Ho, tiếng S'tiêng. Vì gần nhau, người M'Nông và người Mạ sống cạnh nhau lâu năm thường hiểu được nhau ở mức chào hỏi, trao đổi việc thường ngày, nhưng đó vẫn là hai tiếng khác nhau, không phải hai giọng của một tiếng.
Trong bon, người lớn tuổi nói tiếng mẹ đẻ là chính. Thế hệ trung niên thường thạo cả tiếng mẹ đẻ lẫn tiếng phổ thông. Lớp trẻ đi học, đi làm xa thì nói tiếng phổ thông nhiều hơn, và ở một số gia đình trẻ con chỉ còn hiểu chứ ít nói tiếng của ông bà. Đây là hiện tượng chung của nhiều cộng đồng bản địa Tây Nguyên chứ không riêng Tà Đùng.
Tiếng M'Nông có chữ viết dựa trên chữ cái Latin, được dùng trong sách học tiếng, tài liệu tuyên truyền và các lớp dạy tiếng M'Nông ở vùng Đắk Nông, Đắk Lắk cũ. Tiếng Mạ cũng có chữ viết Latin, ít phổ biến hơn. Phần lớn người dân vẫn dùng tiếng mẹ đẻ ở dạng nói.
Tiếng Mông, Dao, Tày, Nùng: tiếng nói theo người từ phía Bắc vào
Đồng bào phía Bắc vào lập nghiệp mang theo tiếng nói của quê cũ, và trong các thôn ở theo họ, theo bản cũ, tiếng mẹ đẻ được giữ khá tốt. Ở nhà người Mông, ông bà, cha mẹ, con cái thường nói tiếng Mông với nhau; trẻ con học tiếng phổ thông khi đi học. Tiếng Mông có chữ viết Latin được Nhà nước ban hành từ những năm 1960, dùng trong một số lớp học tiếng, sách báo, chương trình phát thanh.
Tiếng Tày, tiếng Nùng gần nhau, người hai dân tộc thường hiểu nhau. Người Tày, Nùng vào Tây Nguyên sớm hội nhập với tiếng phổ thông, nhiều gia đình dùng tiếng Việt trong nhà nhiều hơn tiếng mẹ đẻ. Những buổi hát then, hát lượn khi có dịp là lúc tiếng Tày, tiếng Nùng vang lên rõ nhất.
Một hiện tượng thú vị ở vùng như Tà Đùng là các tiếng nói vay từ của nhau. Từ chỉ cây cà phê, hồ tiêu, máy móc, giấy tờ đều mượn tiếng Việt; người Kinh thì học vài từ của đồng bào để gọi rau rừng, món ăn, đồ dùng. Ngôn ngữ ở đây, như dân cư, là kết quả của nhiều lớp gặp nhau.
Giọng Kinh nhiều miền và tiếng Việt kiểu Tây Nguyên
Người Kinh ở Tà Đùng đến từ nhiều tỉnh, nên trong một xóm có thể nghe giọng Thái Bình, Nam Định, giọng Thanh Nghệ, giọng Quảng, giọng miền Tây. Thế hệ đầu giữ giọng quê rất rõ; thế hệ sinh ra ở đây nói một giọng pha, thường nghiêng về giọng miền Nam ở cách xưng hô nhưng còn giữ nhiều từ quê cha mẹ.
Tiếng Việt dùng giữa các dân tộc ở đây có những nét riêng: nói chậm, câu ngắn, dùng nhiều từ chỉ việc làm rẫy, mùa vụ. Người đồng bào nói tiếng Việt như tiếng thứ hai đôi khi đặt từ theo trật tự của tiếng mẹ đẻ, dùng từ xưng hô khác thói quen của người Kinh. Hiểu điều này giúp tránh hiểu lầm, chẳng hạn cho rằng người đối diện nói cộc hay thiếu lễ phép.
Với người mới lên, cách giao tiếp tốt nhất là nói chậm, rõ, dùng từ phổ thông, tránh tiếng lóng thành phố và tránh nói tắt. Khi cần trao đổi chuyện quan trọng như giá công, ranh giới đất, hẹn ngày, hãy nhắc lại và xác nhận lần nữa.
Trường học: khi tiếng phổ thông là tiếng thứ hai của học trò
Với nhiều trẻ con bon làng và thôn đồng bào phía Bắc, vào lớp một là lần đầu học bằng tiếng phổ thông. Những tuần đầu, trẻ vừa phải học chữ vừa phải học hiểu lời cô giáo. Vì vậy ngành giáo dục có chương trình tăng cường tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số từ bậc mầm non trước khi vào lớp một.
Ở những điểm trường lẻ của vùng Tà Đùng, giáo viên biết tiếng của học trò là một lợi thế lớn. Có giáo viên là người địa phương, có giáo viên người Kinh tự học vài trăm từ để giải thích bài. Một số nơi có lớp dạy tiếng dân tộc thiểu số theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo khi đủ điều kiện về giáo viên, tài liệu và nhu cầu của phụ huynh.
Phụ huynh người Kinh mới lên đôi khi lo con học chung lớp với trẻ chưa thạo tiếng Việt sẽ chậm. Thực tế cho thấy trẻ học tiếng của nhau rất nhanh, và lớn lên trong môi trường nhiều tiếng nói là một thuận lợi chứ không phải thiệt thòi.
Tiếng nói trong y tế và hành chính: chỗ dễ vấp nhất
Ở trạm y tế, khi người bệnh lớn tuổi chỉ thạo tiếng mẹ đẻ, việc kể triệu chứng và hiểu lời dặn dùng thuốc trở nên khó. Nhiều gia đình đi khám thường dẫn theo một người con biết tiếng phổ thông để nói giúp. Với người làm y tế từ nơi khác đến, học vài câu hỏi cơ bản bằng tiếng của cộng đồng mình phục vụ là cách nhanh nhất để được tin.
Ở trụ sở xã, giấy tờ đều viết bằng tiếng Việt. Người đồng bào lớn tuổi đi làm giấy tờ thường cần người đọc giúp, giải thích giúp. Cán bộ một cửa biết tiếng địa phương, hoặc thôn có người hỗ trợ đi cùng, giúp giảm rất nhiều lần đi lại.
Các cuộc họp thôn, tuyên truyền về chính sách cũng cần dịch. Ở nhiều nơi, trưởng thôn hoặc già làng nói lại nội dung bằng tiếng mẹ đẻ sau khi cán bộ nói tiếng phổ thông. Đây không phải chuyện thủ tục mà là điều quyết định người dân có hiểu và làm theo được hay không.
Giữ tiếng cho trẻ: gia đình và cộng đồng đang làm gì
Ở nhiều gia đình đồng bào, cha mẹ lo con nói tiếng phổ thông kém nên ở nhà chủ động nói tiếng Việt với con; kết quả là trẻ dần mất tiếng mẹ đẻ. Ở chiều ngược lại, có gia đình kiên trì nói tiếng mẹ đẻ trong nhà, để trường dạy tiếng phổ thông. Các nghiên cứu về giáo dục song ngữ thường cho rằng nền tảng tiếng mẹ đẻ vững giúp trẻ học tiếng thứ hai tốt hơn, chứ không cản trở.
Cộng đồng giữ tiếng bằng những cách không cần lớp học: kể chuyện bên bếp lửa, hát trong ngày lễ, dạy trẻ tên cây, tên suối, tên rẫy. Những sinh hoạt văn hoá như đánh chiêng, hát then, thổi khèn cũng là lúc tiếng mẹ đẻ được dùng trọn vẹn nhất.
Với người ngoài muốn góp sức, điều tốt nhất không phải là mở lớp theo ý mình, mà là hỏi cộng đồng cần gì: ghi âm truyện kể của người già, in lại sách song ngữ, hỗ trợ giáo viên địa phương. Mọi hoạt động như vậy nên làm qua nhà trường, ủy ban xã và có sự đồng ý của gia đình.
Người ngoài giao tiếp với các cộng đồng ở Tà Đùng: vài câu, vài phép
Bạn không cần học thạo tiếng nào để sống tử tế ở Tà Đùng, nhưng vài câu chào hỏi, cảm ơn bằng tiếng của người đối diện luôn được đón nhận vui vẻ. Cách học đúng nhất là nhờ chính người trong cộng đồng dạy và sửa phát âm, vì phát âm sai đôi khi thành nghĩa khác.
Vài phép giao tiếp nên nhớ: gọi đúng tên dân tộc của người đối diện, không gọi chung là người dân tộc; không nhại giọng, nhại cách nói tiếng Việt của đồng bào để đùa; khi người đối diện chưa hiểu, nói lại chậm hơn bằng từ đơn giản hơn chứ không nói to hơn. Những điều nhỏ này quyết định bạn được coi là khách hay là người quen.
Với trẻ con, chơi với chúng là con đường học tiếng nhanh nhất. Với người già, ngồi nghe là đủ. Ngôn ngữ ở một xã nhiều dân tộc không chỉ để trao đổi thông tin mà còn là cách mỗi cộng đồng thấy mình được tôn trọng.
Tiếng nói và tên đất: dấu vết ngôn ngữ trên bản đồ Tà Đùng
Nhìn bản đồ vùng Tà Đùng là thấy dấu vết của nhiều lớp tiếng nói. Những tên bắt đầu bằng chữ Đắk như Đắk Som, Đắk R'Măng, Đắk Glong, Đắk Nông là dấu vết của các ngôn ngữ bản địa Tây Nguyên, trong đó đắk thường được hiểu là nước, suối, sông. Tên núi, tên suối, tên bon phần nhiều cũng có gốc tiếng M'Nông, tiếng Mạ.
Lớp tên thứ hai là tên đặt theo hành chính: thôn đánh số, khu tái định cư, tên các công trình. Lớp thứ ba là tên do người mới đặt: tên quán, tên vườn, tên những điểm ven hồ do dân du lịch gọi rồi thành quen. Ba lớp tên này cùng tồn tại, và người địa phương chuyển qua lại giữa chúng rất tự nhiên.
Với người viết, người làm bản đồ, dịch vụ, giữ tên gốc bản địa bên cạnh tên mới là cách giữ ký ức của vùng đất. Khi không chắc nghĩa của một tên, chỉ nên ghi tên chứ đừng tự giải nghĩa, vì nghĩa phỏng đoán lan đi rất nhanh và rất khó đính chính.
Câu hỏi thường gặp
Tiếng M'Nông và tiếng Mạ có giống nhau không?
Gần nhau nhưng không giống. Cả hai cùng thuộc nhánh Bahnar phía Nam của ngữ hệ Môn – Khmer, nên có nhiều từ tương tự và người sống cạnh nhau lâu có thể hiểu nhau phần nào. Tuy vậy đây là hai ngôn ngữ riêng của hai dân tộc khác nhau.
Ở Tà Đùng có cần biết tiếng đồng bào mới mua bán được không?
Không cần. Tiếng phổ thông dùng được ở chợ, cửa hàng, trụ sở, trường học. Biết thêm vài câu chào hỏi bằng tiếng M'Nông, tiếng Mông giúp việc làm quen dễ hơn, nhất là khi làm việc lâu dài trong các thôn, bon.
Tiếng Mông có chữ viết không?
Có. Chữ Mông dựa trên chữ cái Latin được Nhà nước ban hành từ những năm 1960, đánh dấu thanh điệu bằng chữ cái cuối âm tiết. Chữ này được dùng trong một số lớp học tiếng, sách và chương trình phát thanh, dù nhiều người vẫn chủ yếu dùng tiếng Mông ở dạng nói.
Trẻ con đồng bào ở Tà Đùng học tiếng Việt từ khi nào?
Phần lớn bắt đầu tiếp xúc nhiều với tiếng Việt khi đi mầm non. Ngành giáo dục có chương trình tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số trước khi vào lớp một. Ở nhà, nhiều trẻ vẫn nói tiếng mẹ đẻ với ông bà, cha mẹ.
Trường ở Tà Đùng có dạy tiếng dân tộc không?
Việc dạy tiếng dân tộc thiểu số trong trường phổ thông được tổ chức khi đủ điều kiện về giáo viên, tài liệu và nhu cầu của học sinh, phụ huynh, theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Muốn biết trường cụ thể có lớp hay không, hãy hỏi trực tiếp nhà trường.
Người Kinh ở Tà Đùng nói giọng gì?
Nhiều giọng, tuỳ quê gốc: giọng Bắc, giọng Thanh Nghệ, giọng Quảng, giọng miền Tây. Thế hệ sinh ra ở đây thường nói giọng pha, xưng hô nghiêng về miền Nam nhưng còn giữ nhiều từ của quê cha mẹ.