Cây trồng chính ở xã Tà Đùng là cà phê vối, kế đến là hồ tiêu trồng xen trên trụ sống trong vườn cà phê, rồi tới nhóm cây ăn trái và cây lấy hạt đang tăng dần như sầu riêng, bơ, mắc ca. Ngoài ra có rừng trồng trên đất dốc, cây ngắn ngày như bắp, đậu, chanh dây ở đất mới và một ít lúa nước hoặc lúa rẫy ở những thung thấp.
Cơ cấu này không do ai sắp đặt một lần mà hình thành qua mấy chục năm khai phá vùng đồi Đắk Som và Đắk R'Măng cũ, theo ba thứ quyết định mọi vườn ở đây: đất đỏ bazan trên dốc, mùa khô dài cần nước tưới, và giá nông sản lên xuống. Hiểu ba thứ ấy là hiểu vì sao nhìn một sườn đồi ở Tà Đùng lại thấy năm sáu loại cây chen nhau.
Cà phê vối: cây nền của gần như mọi vườn
Cà phê vối, tức robusta, là loại cà phê hợp với độ cao vài trăm mét tới khoảng một nghìn mét, chịu nắng tốt và cho năng suất cao khi được tưới trong mùa khô. Vùng đồi quanh hồ Tà Đùng nằm đúng trong khoảng ấy, nên từ những đợt khai hoang đầu tiên, cà phê vối đã là lựa chọn mặc định của người đến lập nghiệp. Cà phê chè (arabica) cần vùng cao và lạnh hơn, nên ở đây ít gặp vườn arabica đáng kể.
Cà phê làm cây nền vì ba lý do. Nó là cây lâu năm, trồng một lần cho thu hoạch nhiều năm. Nó bán được ngay ở đại lý trong thôn, không cần mối quen hay hợp đồng. Và nó cho phép trồng xen: những cây cao hơn như sầu riêng, bơ, muồng che bóng được đưa vào giữa hàng cà phê mà không phải phá vườn. Chính vì vậy, khi hộ nào nói chuyển sang sầu riêng, rất thường là họ vẫn giữ phần lớn cà phê và chỉ thêm sầu riêng vào giữa.
Một vườn cà phê ở Tà Đùng thường có tuổi khác nhau ở từng lô: lô già trồng từ thời khai hoang, lô đã cưa ghép lại bằng giống mới, lô trồng thay sau khi cây chết. Tái canh vườn già là chuyện lớn của nhiều hộ hiện nay, vì cây trên hai mươi năm cho năng suất giảm rõ.
Hồ tiêu: cây xen từng lên rồi xuống
Hồ tiêu ở Tà Đùng chủ yếu trồng trên trụ sống, tức cây keo dậu, muồng đen hay cây gòn trồng thành hàng trong vườn cà phê rồi cho dây tiêu leo lên. Cách này rẻ hơn trụ bê tông, trụ gỗ và cho bóng mát, nhưng trụ sống cũng tranh nước, tranh phân với tiêu và cà phê. Có vườn trồng tiêu thuần trên trụ chết, chủ yếu từ những năm tiêu được giá cao.
Giai đoạn giá tiêu lên cao khiến nhiều nơi ở Tây Nguyên mở rộng tiêu ồ ạt, rồi sau đó bệnh chết nhanh, chết chậm cùng giá xuống làm nhiều vườn bị nhổ bỏ. Vùng Đắk Glong cũ cũng không đứng ngoài. Hiện nay tiêu ở Tà Đùng phần nhiều là cây xen có chừng mực, đóng vai trò nguồn thu thứ hai sau cà phê, thu hoạch quanh đầu năm, lệch mùa với cà phê nên giúp dòng tiền của nông hộ rải ra hơn.
Với người đọc ngoài nghề, điều đáng nhớ là tiêu rất nhạy với đất úng và với nấm bệnh trong đất. Những vườn tiêu xanh tốt trên lưng đồi thoát nước thường bền hơn vườn ở chân dốc ẩm. Chuyện tiêu chết hàng loạt vì thế vừa là chuyện giá, vừa là chuyện đất.
Năm nhóm cây trong vườn Tà Đùng và vai trò của từng nhóm
Bảng so sánh vai trò của các nhóm cây trong một nông hộ điển hình ở Tà Đùng. Mùa thu hoạch ghi theo lệ chung của vùng cao nguyên phía nam Tây Nguyên, từng năm có thể lệch.
| Nhóm cây | Vai trò trong nông hộ | Mùa thu hoạch thường gặp | Điểm yếu |
|---|---|---|---|
| Cà phê vối | Thu nhập chính, bán dễ | Khoảng tháng 10 tới tháng 1 | Cần nước tưới mùa khô, cần nhiều công hái |
| Hồ tiêu | Nguồn thu thứ hai, lệch mùa với cà phê | Khoảng tháng 1 tới tháng 4 | Dễ chết vì bệnh rễ, giá biến động mạnh |
| Sầu riêng | Thu nhập lớn khi vườn vào kỳ | Khoảng giữa năm tới cuối mùa mưa | Kén nước, kén chăm, vốn dài năm |
| Bơ, mắc ca, cây trái khác | Che bóng, thu thêm | Bơ giữa năm; mắc ca cuối mùa mưa | Giá phụ thuộc thương lái, mắc ca chậm cho thu |
| Rừng trồng, cây ngắn ngày | Giữ đất dốc, lấy ngắn nuôi dài | Rừng nhiều năm; bắp, đậu theo vụ mưa | Thu nhập chậm hoặc nhỏ |
Tháng thu hoạch trong bảng là khoảng thường gặp ở cao nguyên phía nam, không phải lịch cố định của xã. Một vườn ở thung thấp ấm hơn có thể chín sớm hơn vườn trên đỉnh đồi vài tuần.
Sầu riêng, bơ, mắc ca: nhóm cây đang lên
Mấy năm gần đây, sầu riêng là cây được nhắc tới nhiều nhất ở cả vùng Tây Nguyên, và Tà Đùng cũng có nhiều hộ trồng thêm. Lý do là một cây sầu riêng vào kỳ cho thu nhập trên mỗi gốc lớn hơn nhiều so với cà phê. Nhưng sầu riêng cũng là cây kén nhất: cần nước đều suốt mùa khô, đất thoát nước tốt, chăm hoa, chăm trái kỹ, và mất nhiều năm mới cho thu ổn định. Hộ thiếu nước hay thiếu vốn mà trồng ồ ạt dễ rơi vào cảnh cây chết hoặc vườn bỏ dở.
Bơ là cây quen thuộc hơn, ban đầu trồng làm cây che bóng cho cà phê rồi dần thành nguồn thu. Bơ ở vùng này phần nhiều là bơ ghép các giống quen trên thị trường, bán cho thương lái theo vụ. Mắc ca được đưa vào vùng Tây Nguyên như cây trồng xen, cho hạt sau vài năm, ít tốn nước hơn sầu riêng, nhưng đầu ra phụ thuộc vào cơ sở thu mua và chế biến.
Điều chung của nhóm cây này là chúng đang thay đổi diện mạo vườn: tầng cây cao lên, bóng nhiều hơn, cà phê bên dưới phải điều chỉnh. Một vườn Tà Đùng năm năm tới sẽ trông khác hôm nay, không phải vì người ta bỏ cà phê mà vì cà phê không còn đứng một mình.
Cây trồng khác nhau theo vị trí trong xã
Đất ven hồ. Gần mặt hồ Đồng Nai 3, nước tưới dễ lấy hơn nên sầu riêng, bơ xuất hiện dày hơn. Nhưng dải đất sát mép nước có thể bị ngập khi hồ đầy, và hành lang bảo vệ hồ chứa không cho trồng, xây tuỳ ý.
Đất dọc đường lớn. Vườn dọc đường liên xã và gần quốc lộ 28 thuận chở hàng, nhà vườn dễ tiếp cận đại lý vật tư, thương lái. Ở đây vườn thâm canh hơn, cây trái nhiều hơn.
Đất sâu trong đồi. Thôn xa đường, đất dốc, nước khó thì cà phê, tiêu và rừng trồng vẫn là chính, cây trái kén nước ít hơn. Đường đất mùa mưa khiến chở hàng tốn kém.
Đất sát rừng và vùng đệm. Gần Vườn quốc gia Tà Đùng, hộ dân thường kết hợp vườn nhỏ với nhận khoán bảo vệ rừng. Mở rộng vườn bị giới hạn bởi ranh giới đất rừng.
Thung thấp có nước. Một số khoảnh thấp gần suối được làm lúa hoặc trồng rau, bắp. Đây là phần nhỏ của xã nhưng quan trọng với bữa ăn của nhiều hộ đồng bào.
Vì sao Tà Đùng ít ruộng lúa và gần như không có chè
Người từ đồng bằng lên Tà Đùng hay ngạc nhiên vì vắng bóng ruộng lúa. Lý do là địa hình: đất ở đây phần lớn là đồi dốc, nước không giữ lại được trên mặt như đồng bằng, và lúa nước cần ruộng bậc thang hoặc thung bằng có suối. Đồng bào bản địa xưa làm rẫy lúa trên đồi theo lối luân canh, nhưng khi đất được chia ổn định và cà phê lan rộng, rẫy lúa thu hẹp dần, lúa chỉ còn ở vài khoảnh thấp.
Chè cũng hiếm, dù vùng Bảo Lộc cùng tỉnh Lâm Đồng nổi tiếng về chè. Chè cần vùng cao hơn, mưa phân bố đều hơn và một hệ thống thu mua chế biến đi kèm, điều mà vùng Đắk Glong cũ không có. Tương tự, rau hoa ôn đới kiểu Đà Lạt không phải thế mạnh của độ cao này.
Hiểu điều này giúp người mới tránh những ý định chuyển đổi không hợp đất: thứ cây thịnh ở vùng khác chưa chắc sống tốt trên đồi đỏ quanh hồ Tà Đùng. Trước khi trồng cây lạ, nên hỏi khuyến nông và xem vườn thử của người đi trước trong chính xã.
Sau sáp nhập 2025: điều gì đổi với cây trồng, điều gì không
Việc xã Đắk Som và Đắk R'Măng nhập thành xã Tà Đùng, rồi Đắk Nông nhập vào Lâm Đồng, không làm cây nào trong vườn đổi khác. Đất, nước, khí hậu vẫn vậy, người trồng vẫn vậy. Cái đổi nằm ở giấy tờ và ở bộ máy hỗ trợ: tên địa chỉ trên hợp đồng bán hàng, hồ sơ vay vốn, giấy chứng nhận vườn trồng đổi theo đơn vị mới; cán bộ khuyến nông, thú y, kiểm lâm được sắp xếp lại khi không còn cấp huyện.
Với những hộ đã tham gia các chương trình cấp mã số vùng trồng, chứng nhận sản xuất bền vững hay liên kết với doanh nghiệp thu mua, việc cần làm là kiểm lại xem hồ sơ đứng tên đơn vị cũ có cần cập nhật không. Người mua nông sản đi xuất khẩu, nhất là sang thị trường đòi truy xuất nguồn gốc, thường yêu cầu thông tin vị trí vườn khớp với địa danh hiện hành.
Một thay đổi dài hạn hơn là Tà Đùng nay nằm chung tỉnh với Đà Lạt, Bảo Lộc, Di Linh, những vùng có truyền thống nông nghiệp lâu đời và hệ thống nghiên cứu, thu mua, chế biến lớn. Điều này có thể mở thêm kênh tiếp cận giống, kỹ thuật và thị trường cho nông hộ, nhưng tác động cụ thể còn phải chờ thời gian và chính sách của tỉnh mới.
Đọc một sườn đồi Tà Đùng khi đi qua
Nếu anh chị đi trên đường thôn và muốn biết vườn trước mặt trồng gì, có vài mẹo nhìn. Tầng thấp, lá xanh đậm, cây cao ngang người, xếp hàng là cà phê. Những cột cây thẳng có dây leo bám kín, lá hình tim là trụ tiêu. Cây cao tán tròn rậm, lá mặt dưới ánh vàng đồng là sầu riêng. Cây lá to, tán xoè, quả treo lủng lẳng là bơ. Cây lá cứng có răng cưa nhỏ, trồng thưa hơn là mắc ca. Hàng cây thẳng thân trắng, lá nhỏ trên đất dốc thường là keo của rừng trồng.
Vườn nhiều tầng như vậy không phải hỗn độn mà là cách nông hộ chia rủi ro và tận dụng đất dốc. Mỗi tầng lấy một phần nắng, rễ ăn một độ sâu khác nhau, tiền về vào một mùa khác nhau. Đó là gương mặt nông nghiệp đặc trưng của xã Tà Đùng hôm nay.
Câu hỏi thường gặp
Tà Đùng có trồng cà phê chè (arabica) không?
Ít. Vùng đồi quanh hồ Tà Đùng có độ cao hợp với cà phê vối (robusta) hơn. Cà phê chè cần vùng cao, lạnh hơn như các cao nguyên quanh Đà Lạt mới cho hạt tốt và ít bệnh, nên ở đây hầu như không có vườn arabica đáng kể.
Sầu riêng ở Tà Đùng có nhiều không?
Sầu riêng tăng nhanh mấy năm gần đây, nhiều nhất ở những vườn có nước tưới tốt gần hồ hoặc có ao chứa. Phần lớn được trồng xen trong vườn cà phê sẵn có chứ ít vườn thuần. Diện tích chính xác nên tra số liệu của xã hoặc tỉnh.
Vì sao nông dân Tà Đùng trồng xen nhiều loại cây?
Trồng xen giúp chia rủi ro giá và thời tiết, rải thu nhập ra nhiều tháng, tận dụng đất dốc theo nhiều tầng và có cây che bóng cho cà phê. Đổi lại, vườn xen tốn nước, phân và đòi tính toán mật độ cẩn thận.
Mùa thu hoạch cà phê ở Tà Đùng vào tháng mấy?
Theo lệ chung vùng cao nguyên phía nam, cà phê vối chín và được hái từ khoảng tháng 10 tới tháng 1 năm sau, rộ nhất quanh tháng 11 và 12. Vườn ở chỗ thấp ấm có thể chín sớm hơn vườn trên cao vài tuần.
Có nên trồng chè hay rau ôn đới ở Tà Đùng?
Đây không phải thế mạnh của độ cao và khí hậu vùng hồ Tà Đùng, và xã cũng không có hệ thống thu mua cho những cây này. Muốn thử cây mới nên hỏi khuyến nông và xem vườn thử của người đi trước trong xã trước khi trồng diện rộng.