TaDung.vnTà Đùng
Nông nghiệp và sinh kế

Nghề cá trên hồ Tà Đùng: đánh bắt, nuôi lồng và chở đò của cư dân ven hồ Đồng Nai 3

Cư dân ven hồ Tà Đùng (hồ thủy điện Đồng Nai 3) làm nghề hồ ra sao: đánh bắt, nuôi cá lồng, chở đò; nước lên xuống theo mùa, luật khai thác, vì sao chỉ là nghề phụ.

A small wooden boat with one person seen from behind pulling a gill net at dawn on a misty reservoir, forested islands in the background, still dark green water

Ở xã Tà Đùng, nghề hồ gồm ba việc chính: đánh bắt cá tự nhiên bằng lưới, lờ, câu; nuôi cá lồng ở một số khu nước sâu, kín gió; và chở người, chở hàng bằng ghe máy qua các nhánh hồ thủy điện Đồng Nai 3. Phần lớn hộ làm nghề hồ là hộ sống sát mép nước, và với đa số, nghề hồ là nguồn thu thêm bên cạnh vườn chứ không phải nghề duy nhất.

Hồ Tà Đùng không phải hồ tự nhiên mà là lòng hồ chứa của thủy điện Đồng Nai 3, hình thành khi đập chắn sông Đồng Nai thượng nguồn và nước dâng ngập các thung lũng giữa đồi. Vì là hồ chứa, mặt nước lên xuống theo mùa và theo vận hành của nhà máy, cá trong hồ là cá sông thích nghi với nước tĩnh cộng với cá được thả. Những đặc điểm ấy quyết định nghề hồ ở đây khác nghề sông, nghề biển ra sao.

Hồ thủy điện thành nơi kiếm sống như thế nào

Trước khi có hồ, thung lũng sông Đồng Nai đoạn này là đất rẫy, rừng và những khúc sông chảy xiết. Khi hồ tích nước, một phần đất sản xuất và nơi ở chìm xuống, người dân sống trong vùng ngập được di dời theo chương trình tái định cư của dự án. Mặt nước rộng xuất hiện cùng các đảo vốn là đỉnh đồi cũ, và cá sông bắt đầu sinh sôi trong môi trường nước sâu, tĩnh hơn.

Những năm đầu sau khi hồ đầy, cá nhiều và dễ bắt, nhiều hộ ven hồ sắm ghe, sắm lưới. Theo thời gian, số người khai thác tăng, cá lớn ít dần, người làm nghề phải đi xa hơn, đặt lưới lâu hơn. Đây là quy luật chung của các hồ chứa thủy điện ở Tây Nguyên: nguồn lợi cá tự nhiên có hạn, và nếu khai thác bằng ngư cụ hủy diệt hoặc bắt cả cá non thì sẽ suy kiệt nhanh.

Với người Tà Đùng, hồ vì thế vừa là nguồn sống vừa là thứ phải giữ. Các quy định về vùng cấm khai thác, kích thước mắt lưới, cấm dùng xung điện, chất nổ đều nhằm giữ đàn cá cho những năm sau. Người làm nghề lâu năm thường là người giữ luật kỹ nhất, vì họ hiểu rõ hồ cạn cá thì nghề cũng hết.

Đánh bắt tự nhiên: các cách làm quen thuộc

Lưới thả qua đêm. Cách phổ biến nhất: chiều tối chèo ghe ra thả lưới dọc các nhánh hồ, sáng sớm ra gỡ. Sáng sớm là lúc mặt hồ yên nhất, sương còn phủ, cũng là lúc người làm nghề ra nước nhiều nhất.

Lờ, rọ đặt ven bờ. Đặt ở vùng nước nông gần mép hồ, gần gốc cây ngập, bắt cá nhỏ, tép. Cách này ít tốn sức, hợp với người lớn tuổi, phụ nữ.

Câu. Câu tay, câu cắm dọc bờ hoặc từ ghe. Câu vừa là nghề vừa là thú vui, nhiều người câu lấy cá ăn trong nhà.

Theo mùa nước. Khi nước rút trong mùa khô, cá dồn về lòng hồ sâu; khi nước dâng mùa mưa, cá tản vào các nhánh, vùng ngập mới. Người làm nghề dời chỗ đặt lưới theo mép nước.

Những cách bị cấm. Xung điện, chất nổ, hoá chất và lưới mắt quá nhỏ là cách khai thác bị cấm theo Luật Thủy sản 2017 và các văn bản hướng dẫn. Vi phạm vừa bị xử phạt vừa làm cạn kiệt nguồn cá của chính những người sống bằng hồ.

Nuôi cá lồng: cơ hội và giới hạn

Nuôi cá lồng là hướng nhiều người nghĩ tới khi thấy mặt nước rộng. Cá được nuôi trong lồng lưới hoặc lồng khung đặt ở vùng nước sâu, kín gió, cho ăn thức ăn công nghiệp hoặc tự phối trộn. Các loài hay được nuôi ở hồ chứa vùng Tây Nguyên là những loài chịu được nước tĩnh và nhiệt độ cao nguyên; loài cụ thể tuỳ vùng và tuỳ đầu ra, nên hỏi cán bộ thủy sản của tỉnh trước khi chọn giống.

Cái khó của nuôi lồng trên hồ thủy điện nằm ở nước. Khi mực nước hạ nhanh, lồng phải dời theo; khi nước đổi tầng vào đầu mùa mưa, lớp nước đáy thiếu ôxy có thể trồi lên làm cá chết hàng loạt. Nước xả, nước lũ mang bùn đất từ thượng nguồn cũng làm cá bỏ ăn. Ngoài ra, chi phí thức ăn, giống và lồng là khoản vốn lớn với nông hộ, trong khi đầu ra phụ thuộc vào thương lái từ nơi khác vào mua.

Về pháp lý, nuôi trồng thủy sản trên hồ chứa phải tuân theo Luật Thủy sản 2017, các quy định về hành lang bảo vệ hồ chứa và sự đồng ý của đơn vị quản lý hồ cũng như chính quyền địa phương về vị trí đặt lồng. Quy định chi tiết có thể thay đổi sau sắp xếp hành chính, nên người muốn nuôi cần hỏi UBND xã Tà Đùng và cơ quan chuyên môn của tỉnh Lâm Đồng trước khi bỏ vốn.

Chở đò: con đường bằng nước của dân ven hồ

Khi hồ dâng, nhiều lối đi cũ giữa các xóm bị cắt. Một số khu dân cư và vườn nằm ở bờ bên kia các nhánh hồ, đi đường bộ phải vòng rất xa. Ghe máy nhỏ trở thành phương tiện quen thuộc để người dân sang vườn, chở phân bón, chở cà phê, chở người đi chợ. Có hộ có ghe riêng, có người làm nghề chở thuê theo chuyến.

Mấy năm gần đây, khi khách đến hồ Tà Đùng nhiều hơn, một số người chuyển sang chở khách đi ngắm hồ. Đây là nguồn thu mới, nhưng cũng đặt ra yêu cầu an toàn cao hơn: phương tiện chở khách phải đăng ký, đăng kiểm, người lái phải có chứng chỉ phù hợp và trên ghe phải có áo phao đủ số người. Phần chở khách, lịch đi hồ thuộc các trang du lịch và tour trong hệ Tà Đùng; ở đây chỉ nói chở đò như một nghề sinh kế của cư dân.

Dù chở hàng hay chở người, chở đò trên hồ chứa đều có rủi ro: gió giật chiều mùa mưa tạo sóng lớn bất ngờ ở những vùng hồ rộng, sương mù sáng sớm che tầm nhìn, gốc cây ngập dưới mặt nước có thể làm hỏng chân vịt hay lật ghe. Người làm nghề lâu năm thuộc đường nước như thuộc đường làng, nhưng người mới thì cần học từ họ trước khi tự chạy.

So sánh ba dạng nghề hồ ở Tà Đùng

Bảng tóm tắt ba dạng sinh kế trên mặt hồ theo vốn, rủi ro và mức ổn định. Đây là so sánh định tính, không có số liệu thu nhập.

NghềVốn ban đầuRủi ro lớn nhấtMức ổn định
Đánh bắt tự nhiênGhe nhỏ, lưới, lờCá ít dần, thời tiết trên hồThấp, thay đổi theo mùa nước
Nuôi cá lồngLồng, giống, thức ăn — vốn lớnCá chết khi nước đổi, đầu raTrung bình nếu làm kỹ, có đầu ra
Chở hàng, chở ngườiGhe máy, giấy tờ phương tiệnGió, sương, an toàn người điTheo nhu cầu đi lại và lượng khách

Không dạng nào trong ba dạng trên đủ thay thế vườn đối với đa số hộ. Những gia đình sống tốt nhờ hồ thường kết hợp: chồng đánh cá, vợ chăm vườn, ghe vừa chở hàng nhà vừa chở thuê khi rảnh.

Một ngày của hộ làm nghề hồ

Ngày của một hộ ven hồ làm nghề cá thường bắt đầu trước khi trời sáng. Khoảng năm giờ, khi sương còn phủ dày mặt nước vào những tháng mùa khô, người chồng hoặc hai vợ chồng chèo ghe ra chỗ đã thả lưới từ chiều hôm trước, gỡ cá, gom lưới. Sương thường tan dần khi nắng lên, khoảng bảy tám giờ, và đó cũng là lúc ghe quay về bến.

Cá bắt được chia làm ba phần: phần ăn trong nhà, phần bán cho người mua quen chờ ở bến hoặc chở ra chợ xã, phần nhỏ có khi phơi khô, làm mắm. Buổi trưa là lúc vá lưới, sửa ghe, rồi phần lớn thời gian còn lại trong ngày người ta lên vườn như mọi nông hộ khác: tưới cây, làm cỏ, hái quả. Chiều muộn lại chèo ra thả lưới, chọn chỗ theo mép nước và theo kinh nghiệm của những ngày trước.

Nhịp này cho thấy vì sao nghề hồ ở Tà Đùng hiếm khi tách khỏi nghề vườn: hai nghề dùng hai quãng thời gian khác nhau trong ngày, cùng nuôi một gia đình. Những ngày giông gió, mưa lớn, người ta không ra hồ và dồn sức cho vườn; những tuần nước rút, cá dễ bắt, lịch ra hồ dày hơn.

Giữ nguồn cá cho những năm sau

Ở nhiều hồ chứa thủy điện trong cả nước, chính quyền và đơn vị quản lý hồ đã tổ chức thả cá giống tái tạo nguồn lợi, khoanh vùng cấm khai thác ở nơi cá đẻ, và thử mô hình đồng quản lý, tức giao cho cộng đồng người làm nghề cùng giữ một vùng hồ, cùng đặt quy ước khai thác. Những cách làm này dựa trên nguyên tắc của Luật Thủy sản 2017 về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.

Với hồ Tà Đùng, việc áp dụng đến đâu tuỳ chủ trương của địa phương sau khi xã mới hình thành và tỉnh Lâm Đồng tiếp quản. Người làm nghề có thể góp phần bằng những việc nhỏ: không bắt cá quá nhỏ, không dùng lưới mắt dày, báo cho chính quyền khi thấy người dùng xung điện, chất nổ. Nguồn cá là của chung, và người hưởng lợi lâu dài nhất chính là hộ ven hồ.

An toàn và luật lệ khi kiếm sống trên hồ

Đuối nước là rủi ro thật với người làm nghề hồ và trẻ em ven hồ. Hồ chứa có bờ dốc, nước sâu ngay sát mép, đáy nhiều gốc cây, bùn, nước lạnh hơn mặt ở tầng dưới. Người làm nghề nên mặc áo phao khi ra hồ, không ra nước khi trời giông, báo người nhà giờ đi giờ về, và dạy trẻ không tự ý xuống hồ tắm.

Về luật, người khai thác cần biết các vùng cấm hoặc hạn chế đánh bắt do địa phương công bố, mùa cấm khai thác để bảo vệ cá sinh sản nếu có, ngư cụ bị cấm và quy định đăng ký phương tiện. Người nuôi lồng cần hỏi về vị trí được phép đặt lồng và trách nhiệm giữ nước sạch. Những quy định này do UBND xã và các cơ quan chuyên môn của tỉnh Lâm Đồng hướng dẫn, và có thể thay đổi sau khi Đắk Nông nhập vào Lâm Đồng.

Cuối cùng là chuyện giữ hồ sạch. Bao bì thuốc bảo vệ thực vật vứt ven hồ, nước rửa bình phun đổ xuống suối, rác sinh hoạt trôi theo mưa đều quay lại ảnh hưởng tới cá và tới chính nước tưới, nước sinh hoạt của người ven hồ. Nhiều thôn đã có quy ước về rác và bao bì, và người làm nghề hồ là những người được lợi đầu tiên khi quy ước ấy được giữ.

Câu hỏi thường gặp

Hồ Tà Đùng là hồ tự nhiên hay hồ thủy điện?

Hồ Tà Đùng là lòng hồ chứa của thủy điện Đồng Nai 3 trên sông Đồng Nai thượng nguồn. Nước dâng ngập các thung lũng giữa đồi, để lại nhiều đảo vốn là đỉnh đồi cũ, nên mặt nước lên xuống theo mùa và theo vận hành của nhà máy.

Người dân có được tự do đánh bắt cá trên hồ Tà Đùng không?

Người dân được khai thác thủy sản nhưng phải theo Luật Thủy sản 2017 và quy định của địa phương về vùng cấm, mùa cấm, ngư cụ cấm như xung điện, chất nổ, lưới mắt quá nhỏ. Nên hỏi UBND xã Tà Đùng về các quy định đang áp dụng.

Nuôi cá lồng trên hồ Tà Đùng cần giấy phép gì?

Nuôi trồng thủy sản trên hồ chứa phải theo Luật Thủy sản 2017, quy định về hành lang bảo vệ hồ chứa và cần sự đồng ý về vị trí đặt lồng của chính quyền và đơn vị quản lý hồ. Thủ tục cụ thể nên hỏi UBND xã và cơ quan chuyên môn tỉnh Lâm Đồng.

Vì sao cá nuôi lồng trên hồ thủy điện hay chết hàng loạt?

Nguyên nhân thường gặp là nước đổi tầng đầu mùa mưa làm lớp nước đáy thiếu ôxy trồi lên, mực nước hạ nhanh, nước lũ nhiều bùn hoặc nhiệt độ thay đổi đột ngột. Theo dõi mực nước, đặt lồng ở vùng sâu thoáng và hỏi cán bộ thủy sản giúp giảm rủi ro.

Chở khách bằng ghe trên hồ cần điều kiện gì?

Phương tiện chở khách cần đăng ký, đăng kiểm theo quy định về giao thông đường thủy nội địa, người lái phải có chứng chỉ phù hợp và trên ghe phải đủ áo phao cho mọi người. Quy định cụ thể nên hỏi chính quyền xã và cơ quan quản lý giao thông của tỉnh.

Mùa nào cá trên hồ Tà Đùng nhiều?

Người làm nghề thường nói cá dễ bắt hơn khi nước rút trong mùa khô vì cá dồn về lòng hồ, còn mùa mưa cá tản vào các nhánh mới ngập. Lượng cá thực tế còn tuỳ năm và mức khai thác chung, không có lịch cố định.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0918 83 22 83