Phần lớn người dân xã Tà Đùng (tỉnh Lâm Đồng) sống bằng vườn cây lâu năm trên đất đồi: cà phê vối là cây chính, hồ tiêu và cây ăn trái như sầu riêng, bơ, mắc ca trồng xen để chia rủi ro. Bên cạnh vườn, nhiều hộ có thêm nguồn thu từ mặt hồ thủy điện Đồng Nai 3 (đánh bắt, nuôi cá, chở đò), từ rừng (nhận khoán bảo vệ, rừng trồng), từ chăn nuôi nhỏ và từ đi làm thuê theo mùa.
Xã Tà Đùng được lập từ ngày 1/7/2025 trên đất hai xã cũ Đắk Som và Đắk R'Măng của huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông. Khi Đắk Nông nhập vào Lâm Đồng và cấp huyện thôi tồn tại, tên đơn vị trên giấy tờ đổi, nhưng mảnh vườn, cái ghe, con bò của mỗi nhà vẫn y nguyên. Vì vậy, muốn hiểu người Tà Đùng làm gì để sống, cách đúng là nhìn vào đất, nước và lịch mùa vụ chứ không phải vào bảng tên đơn vị hành chính.
Bài này vẽ bức tranh chung: mỗi nguồn sinh kế chiếm chỗ nào trong đời sống một nông hộ, ai làm, mùa nào bận, rủi ro nằm ở đâu. Các bài khác trong mục đi sâu từng mảng; phần kỹ thuật trồng cây, phần mua bán đất và phần làm ăn của doanh nghiệp thuộc các trang chuyên đề khác.
Vườn cây lâu năm: trụ cột thu nhập của phần lớn nông hộ
Đi trên các con đường thôn của Tà Đùng, thứ choán tầm mắt nhiều nhất là những sườn đồi phủ cà phê vối, xen các hàng trụ tiêu và những tán sầu riêng, bơ cao hơn hẳn. Đây là kiểu vườn quen thuộc của vùng Đắk Glong cũ: đất đỏ bazan trên dốc, mỗi nhà vài sào tới vài hecta tuỳ thời điểm đến khai phá và sức lao động. Tiền bán cà phê cuối năm vẫn là khoản lớn nhất trong năm của nhiều hộ, quyết định chuyện sửa nhà, mua xe, trả nợ vật tư hay cho con đi học xa.
Điểm cần hiểu là vườn ở đây hiếm khi thuần một cây. Sau những năm giá cà phê xuống thấp và những đợt tiêu chết hàng loạt ở Tây Nguyên, người trồng rút ra bài học không bỏ hết trứng vào một giỏ. Sầu riêng, bơ, mắc ca được trồng chen trong vườn cà phê sẵn có; vài hộ có điều kiện nước thì mở hẳn vườn sầu riêng riêng. Cách làm này giúp dòng tiền rải ra nhiều tháng thay vì dồn vào một mùa, nhưng cũng làm vườn tốn nước, tốn phân và đòi tay nghề cao hơn.
Diện tích, năng suất và thu nhập cụ thể của từng thôn không có số liệu công khai đủ tin cậy để nêu ở đây. Những con số hay được truyền miệng thường đến từ vài vườn tốt nhất, không đại diện cho cả xã. Nếu cần số liệu, nguồn đáng tin là báo cáo kinh tế – xã hội của UBND xã Tà Đùng hoặc niên giám thống kê của tỉnh Lâm Đồng các năm sau sáp nhập.
Các nguồn sinh kế chính ở Tà Đùng nhìn trên một bảng
Bảng dưới đây xếp các nguồn sinh kế theo mức phổ biến, kèm mùa bận và rủi ro chính. Đây là mô tả định tính dựa trên đặc điểm chung của vùng đồi ven hồ Đồng Nai 3, không phải thống kê.
| Nguồn sinh kế | Ai thường làm | Mùa bận | Rủi ro chính |
|---|---|---|---|
| Cà phê vối | Hầu hết hộ có đất vườn | Tưới đầu mùa khô, hái cuối năm | Giá biến động, khô hạn, thiếu người hái |
| Hồ tiêu | Hộ trồng xen trong vườn cà phê | Hái quanh đầu năm | Bệnh chết nhanh, chết chậm, giá lên xuống mạnh |
| Sầu riêng, bơ, mắc ca | Hộ có nước tưới, vốn khá hơn | Giữa năm tới cuối mùa mưa | Vốn đầu tư dài, kén nước, sâu bệnh |
| Đánh bắt, nuôi cá trên hồ | Hộ ở sát mép nước | Quanh năm, theo mực nước | Nước lên xuống, cá chết khi đổi nước, an toàn trên hồ |
| Nhận khoán bảo vệ rừng, rừng trồng | Hộ gần rừng, nhiều là đồng bào bản địa | Quanh năm, căng nhất mùa khô | Thu nhập nhỏ, phụ thuộc chính sách |
| Chăn nuôi nhỏ | Gần như mọi hộ | Quanh năm | Dịch bệnh, thiếu bãi thả |
| Làm thuê, dịch vụ | Người ít đất, người trẻ | Đông nhất mùa hái | Không ổn định, phụ thuộc mùa |
Một hộ điển hình thường ghép ba, bốn dòng trong bảng: vườn cà phê xen tiêu và vài cây sầu riêng, mươi con gà, một hai con bò, cộng thêm vài tháng đi hái thuê hoặc chở hàng. Chính sự ghép nối này giúp nông hộ đứng vững qua những năm giá xấu.
Mặt hồ Đồng Nai 3: thêm một cánh đồng bằng nước
Hồ thủy điện Đồng Nai 3 hình thành khi nhà máy tích nước để đi vào vận hành, quãng đầu những năm 2010, nhấn chìm một phần thung lũng sông Đồng Nai thượng nguồn và để lại mặt nước rộng có nhiều đảo đồi, nay quen gọi là hồ Tà Đùng. Với những hộ sống ven mép nước, hồ thành một nguồn sinh kế mới: thả lưới, đặt lờ, câu cá, có nơi nuôi cá lồng, và chở người, chở hàng qua những nhánh hồ mà đường bộ phải vòng xa.
Nghề hồ không giống nghề sông. Mực nước hồ chứa thủy điện lên xuống theo mùa và theo lịch vận hành của nhà máy, mép nước có lúc lấn vào vườn, có lúc rút xa để lộ bãi bùn. Cá nhiều hay ít phụ thuộc mùa nước và mức khai thác của cả vùng. Người làm nghề hồ ở Tà Đùng vì vậy ít khi sống được chỉ nhờ cá; phần lớn coi hồ là nguồn thu thêm và nguồn thức ăn hằng ngày cho gia đình.
Việc khai thác thủy sản trên hồ chứa chịu sự quản lý theo Luật Thủy sản 2017 và quy định của địa phương về vùng cấm, mùa cấm, ngư cụ cấm. Nuôi cá lồng còn phải theo quy định về hành lang bảo vệ hồ chứa. Những chi tiết này thay đổi theo thời gian, người làm nghề nên hỏi UBND xã trước khi đầu tư lồng bè hay thuyền máy.
Rừng và vùng đệm Vườn quốc gia Tà Đùng
Trên khối núi cao giáp vùng hồ là Vườn quốc gia Tà Đùng, nơi bảo vệ rừng núi cao và các loài quý của cao nguyên. Nhiều thôn, bon của xã nằm trong hoặc sát vùng đệm, nên rừng hiện diện trong sinh kế theo hai cách. Cách thứ nhất là nhận khoán bảo vệ rừng: hộ hoặc nhóm hộ ký với chủ rừng, chia nhau đi tuần tra, phát hiện cháy và chặt phá, nhận tiền khoán cùng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Luật Lâm nghiệp 2017. Khoản này không lớn nhưng đều, đặc biệt có ý nghĩa với hộ đồng bào bản địa ít đất sản xuất.
Cách thứ hai là rừng trồng trên đất được giao: keo, thông hay các loài cây gỗ, khai thác sau nhiều năm. Rừng trồng cho thu nhập chậm, nhưng ít tốn công chăm và giữ được đất dốc. Ngoài ra còn các loại lâm sản ngoài gỗ như măng, rau rừng, mật ong, nhưng việc thu hái trong rừng đặc dụng bị giới hạn chặt; ở vùng lõi Vườn quốc gia, khai thác là vi phạm.
Với sinh kế ven rừng, ranh giới giữa đất vườn và đất rừng là chuyện cần biết rõ. Nhiều tranh chấp và vi phạm bắt nguồn từ việc mở rộng rẫy lấn rừng trong quá khứ. Người mới đến nhận lại vườn cần hỏi xã về hiện trạng đất trước khi trồng hay làm bất cứ công trình nào.
Chăn nuôi, cây ngắn ngày và những khoản tiền nhỏ
Gà, heo nuôi quanh nhà. Gần như hộ nào cũng có vài chục con gà thả vườn, một số hộ nuôi heo. Đây là nguồn thực phẩm và tiền chợ hằng tuần, bán khi cần tiền gấp, giết khi có giỗ, cưới, Tết.
Bò, dê trên đồi. Hộ có đất trống hay bãi ven hồ nuôi vài con bò, có nhà nuôi dê. Bò là cách để dành tiền của nhiều nông hộ: bê lớn thành bò, bán khi cần một khoản lớn như sửa nhà, cưới hỏi.
Cây ngắn ngày. Bắp, đậu, khoai, chanh dây hay rau trồng trên đất mới khai hoang, đất chờ cây lâu năm lớn hoặc dải đất ven hồ khi nước rút. Cây ngắn ngày lấy ngắn nuôi dài trong những năm vườn chưa cho thu.
Ong, nấm, cây dược liệu. Vài hộ thử nuôi ong lấy mật trong vườn cà phê, trồng nấm hay cây dược liệu dưới tán. Đây là hướng nhỏ lẻ, phù hợp hộ có người rảnh tay và chịu học, chưa thành sinh kế chính của xã.
Nghề phụ trong nhà. Đan lát, dệt thổ cẩm ở một số gia đình đồng bào, may vá, sửa xe, xay xát nhỏ. Thu nhập không nhiều nhưng giữ người già, phụ nữ có việc ngay tại nhà.
Làm thuê, buôn bán và dịch vụ quanh hồ
Không phải ai ở Tà Đùng cũng có đất vườn. Những hộ đến sau, hộ đã bán bớt đất, hay người trẻ mới lập gia đình thường sống bằng làm thuê: hái cà phê, làm cỏ, bón phân, tưới nước cho các vườn lớn, phụ hồ cho các công trình trong xã. Mùa hái là lúc công việc nhiều nhất, và cũng là lúc lao động từ nơi khác đổ về.
Một nhóm khác sống bằng buôn bán: tạp hoá ở trung tâm thôn, đại lý vật tư nông nghiệp, người thu gom cà phê, tiêu ở thôn rồi chở ra điểm thu mua lớn hơn, xe chở hàng, sửa xe máy, sửa máy bơm. Trong vài năm gần đây, khi hồ Tà Đùng được nhiều người biết đến, có thêm những việc gắn với khách: chở đò, nấu ăn, bán nông sản cho khách ghé, làm việc ở các cơ sở lưu trú quanh hồ.
Dịch vụ quanh hồ đem lại nguồn tiền mới nhưng chưa phủ đều cả xã: thôn nào gần đường đẹp và mặt hồ thì hưởng nhiều, thôn sâu trong đồi thì gần như chưa đổi khác. Với đa số nông hộ, du lịch hiện vẫn là khoản cộng thêm, chưa thay được vườn.
Những sức ép đang đè lên sinh kế của xã
Thứ nhất là nước. Mùa khô kéo dài ở cao nguyên làm suối nhỏ cạn, giếng hạ, trong khi sầu riêng, bơ cần nước nhiều hơn cà phê. Nhà nào gần hồ thì bơm được nước hồ lên, nhà xa hồ phụ thuộc ao chứa và giếng khoan. Những năm khô hạn gắt, chênh lệch thu nhập giữa hai nhóm này lộ rõ.
Thứ hai là giá. Cà phê, tiêu, sầu riêng đều là nông sản giá lên xuống theo thị trường thế giới; một năm được giá có thể bù vài năm lỗ, nhưng cũng có thể kéo nông hộ vào nợ vật tư nếu đúng lúc mất mùa. Thứ ba là đường sá và khoảng cách: từ thôn ra quốc lộ 28 và về Gia Nghĩa mất thời gian, chi phí chở hàng cao hơn vùng bằng, mùa mưa nhiều đoạn đường đất lầy lội.
Thứ tư là lao động. Người trẻ đi làm công ty ở TP.HCM (gồm cả vùng Bình Dương cũ), Đồng Nai hay các khu công nghiệp xa, để lại vườn cho cha mẹ. Mùa hái thiếu người, phải thuê công từ nơi khác. Những sức ép này giải thích vì sao nhiều hộ ở Tà Đùng chọn đa dạng nguồn thu thay vì đặt cược vào một cây trồng hay một nghề.
Câu hỏi thường gặp
Xã Tà Đùng trước đây là xã nào?
Xã Tà Đùng thuộc tỉnh Lâm Đồng được lập từ ngày 1/7/2025 trên cơ sở xã Đắk Som và xã Đắk R'Măng của huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông cũ. Sau đợt sắp xếp, tỉnh Đắk Nông nhập vào Lâm Đồng và cấp huyện không còn, nên xã trực thuộc tỉnh.
Cây trồng nào nhiều nhất ở Tà Đùng?
Cà phê vối là cây phủ rộng nhất và nuôi nhiều hộ nhất, thường trồng xen hồ tiêu và các cây ăn trái như sầu riêng, bơ, mắc ca. Diện tích chính xác từng cây nên tra trong báo cáo của xã hoặc số liệu thống kê của tỉnh Lâm Đồng.
Người dân ven hồ Tà Đùng có sống được bằng nghề cá không?
Có hộ sống chủ yếu nhờ hồ, nhưng phần lớn coi đánh bắt, nuôi cá và chở đò là nguồn thu thêm bên cạnh vườn. Mực nước hồ thủy điện lên xuống theo mùa và lượng cá phụ thuộc mức khai thác chung, nên nghề hồ khó ổn định như nghề vườn.
Du lịch đã thay đổi sinh kế của xã Tà Đùng chưa?
Du lịch quanh hồ mang thêm việc làm như chở đò, nấu ăn, bán nông sản, làm ở cơ sở lưu trú, nhưng tập trung ở những thôn gần mặt hồ và đường lớn. Với đa số nông hộ trong xã, vườn cây vẫn là nguồn sống chính.
Tìm số liệu kinh tế chính thức của xã Tà Đùng ở đâu?
Nguồn đáng tin là báo cáo kinh tế xã hội hằng năm của UBND xã Tà Đùng, niên giám thống kê tỉnh Lâm Đồng và các số liệu cũ của huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông trước năm 2025. Số liệu truyền miệng thường lấy từ vài vườn tốt nên không đại diện cả xã.
Người mới đến muốn làm nông ở Tà Đùng nên bắt đầu từ đâu?
Nên ở lại qua ít nhất một mùa khô và một mùa hái để thấy nước, công lao động và đường sá thật sự ra sao, hỏi chuyện hàng xóm và cán bộ khuyến nông của xã, kiểm hiện trạng đất ở UBND xã trước khi trồng hay xây bất cứ thứ gì.