TaDung.vnTà Đùng
Khí hậu và mùa trong năm

Nước hồ lên xuống và đời sống ven bờ ở Tà Đùng: bến dời, đất bán ngập, đi đò theo mùa

Hồ Đồng Nai 3 tích nước mùa mưa, hạ dần mùa khô. Người ven hồ Tà Đùng sống theo nhịp đó: dời bến thuyền, trồng ngắn ngày trên đất bán ngập, đổi lối đi đò, giữ an toàn.

A small fishing boat pulled up on a wide exposed muddy shore of a reservoir in dry season, old tree stumps scattered on the cracked mud, fisherman walking toward the distant water

Mực nước hồ Đồng Nai 3 — hồ Tà Đùng — lên xuống theo một nhịp năm khá đều: mùa mưa hồ tích nước, dâng dần và thường đầy nhất vào cuối mùa mưa, khoảng tháng 10 tới tháng 12; mùa khô hồ xả dần để phát điện và cấp nước hạ du, hạ thấp nhất vào cuối mùa khô, khoảng tháng 4 tới tháng 6. Người sống ven hồ ở Tà Đùng tổ chức cuộc sống theo nhịp ấy: dời bến thuyền theo mép nước, trồng ngắn ngày trên đất bán ngập, đổi lối đi đò, và cảnh giác với những thay đổi bất thường.

Mực nước cụ thể từng thời điểm do quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Đồng Nai và đơn vị quản lý hồ quyết định; trang này không đưa số đo. Bài viết mô tả nhịp nước theo nguyên lý vận hành hồ chứa thủy điện và những gì người dân ven bờ cảm nhận, làm theo.

Vì sao nước hồ không đứng yên

Hồ tự nhiên lên xuống chủ yếu theo mưa. Hồ chứa thủy điện thì khác: mực nước được điều khiển. Mùa mưa, nước từ lưu vực đổ về nhiều, hồ giữ lại để tích trữ; khi nước về vượt khả năng tích và chạy máy, hồ xả bớt qua đập tràn. Mùa khô, nhà máy tiếp tục phát điện và hồ phải xả nước xuống hạ du để bảo đảm dòng chảy, nên mực nước hạ dần.

Việc tích, xả tuân theo quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Đồng Nai do cơ quan có thẩm quyền ban hành, có những mức nước phải đạt hoặc không được vượt ở từng thời kỳ trong năm. Vì vậy dù năm mưa nhiều hay ít, nhịp lên xuống vẫn theo một khuôn chung, chỉ khác về biên độ và thời điểm.

Với người ven hồ, điều quan trọng không phải là con số mà là xu hướng: đang lên hay đang xuống, nhanh hay chậm. Người đánh cá, người nuôi cá lồng lâu năm đọc được điều này bằng mắt qua những vệt nước trên bờ, gốc cây, cọc buộc thuyền.

Một năm nước hồ và việc ven bờ

Mốc tháng gần đúng theo nhịp vận hành chung; từng năm khác nhau tùy lượng mưa và quy trình vận hành.

Giai đoạnMực nướcBờ hồ trông thế nàoViệc thường làm ven bờ
Đầu mùa mưa (khoảng 5 – 7)Thấp, bắt đầu lênBờ trơ đất rộng, đảo nối bờThu hoạch gấp cây ngắn ngày trên đất bán ngập, dời bến lên
Giữa mùa mưa (khoảng 7 – 9)Lên nhanhNước đục, rác cành trôi, doi đất ngậpTheo dõi lồng cá, buộc thuyền chắc, tránh đi gần dòng chảy mạnh
Cuối mùa mưa (khoảng 10 – 12)Cao nhấtNước sát chân đồi, nhánh hồ dài nhấtĐi đò thuận tiện, bến gần đường, cảnh giác khi có xả lũ
Mùa khô (khoảng 1 – 4)Hạ dầnViền đất nâu đỏ rộng ra, gốc cây lộTrồng ngắn ngày trên đất bán ngập, dời bến xuống theo mép nước

Biên độ mực nước giữa lúc cao nhất và thấp nhất đủ lớn để thay đổi hình dạng hồ rõ rệt ở những vùng bờ thoải. Ở vùng bờ dốc, thay đổi ít thấy hơn.

Bến thuyền dời theo mép nước

Ở hồ tự nhiên, bến thuyền là một chỗ cố định. Ở hồ Tà Đùng, bến thường phải dời theo mép nước: mùa khô bến xuống thấp, xa đường, phải đi bộ qua dải đất bán ngập mới tới thuyền; mùa nước đầy bến lên sát chân đồi, gần đường. Nhiều bến là bến tự nhiên, chỉ một khoảng bờ thoải để kéo thuyền lên, buộc vào cọc hay gốc cây.

Việc dời bến kéo theo đổi lối đi: con đường mòn xuống bến mùa khô có thể nằm dưới nước mùa mưa. Người đánh cá, người chở đò quen với việc mỗi mùa mở một lối mới, nhưng người lạ có thể bị bất ngờ khi lối quen ngập hay bến cũ trơ đất.

Bến thuyền chở khách, chở hàng phải theo quy định về bến thủy nội địa và phương tiện thủy. Với những chuyến đò của người dân qua lại giữa các bờ, an toàn — áo phao, không chở quá tải, không đi khi giông gió — là điều được nhắc nhở thường xuyên.

Đất bán ngập: trồng ngắn ngày, chạy đua với mực nước

Khi hồ rút, dải đất bán ngập lộ ra quanh bờ, nhiều nơi đất mịn do phù sa lắng đọng. Người dân ven hồ ở nhiều hồ thủy điện Tây Nguyên tận dụng dải đất này trồng cây ngắn ngày như bắp, đậu, rau màu trong mùa khô. Đất ẩm sẵn, ít phải tưới, nhưng luôn có một giới hạn: phải thu hoạch trước khi nước lên.

Rủi ro lớn nhất là nước lên sớm hay nhanh hơn dự tính, nhất là khi mưa đầu mùa tới sớm hoặc hồ tích nước theo yêu cầu vận hành. Những năm như vậy, mùa vụ trên đất bán ngập có thể mất trắng. Kinh nghiệm của người trồng là chọn cây ngắn ngày nhất, gieo sớm ngay khi đất lộ, và không đầu tư lớn.

Về pháp lý, dải đất bán ngập thường nằm trong phạm vi quản lý của hồ chứa. Việc sử dụng tạm thời để canh tác thời vụ phải theo quy định của địa phương và đơn vị quản lý hồ; không được làm công trình cố định, không được san lấp, rào chắn. Người muốn sử dụng nên hỏi UBND xã về quy định hiện hành.

Cá và nghề cá theo mùa nước

Nhịp nước cũng là nhịp của cá. Khi nước lên đầu mùa mưa, cá theo nước mới vào các vùng ngập ven bờ, nhánh hồ, nơi có nhiều thức ăn từ đất mới ngập; đây là mùa đánh bắt của nhiều người. Khi nước rút mùa khô, cá dồn về vùng sâu, đánh bắt khó hơn nhưng tập trung hơn.

Với người nuôi cá lồng, những lúc nước thay đổi nhanh là lúc nhiều rủi ro: nước đục do bùn đổ về đầu mùa mưa, thay đổi nhiệt độ và oxy trong nước, rác trôi va vào lồng. Lồng phải được dời theo mực nước và vị trí an toàn. Nuôi cá lồng trên hồ chứa còn phải có phép và tuân theo quy định về nuôi trồng thủy sản.

Chuyện nghề cá ven hồ được viết kỹ hơn trong danh mục nông nghiệp và sinh kế của trang. Ở đây chỉ nhấn mối liên hệ: lịch nghề cá ở Tà Đùng là lịch của mực nước hồ, mà mực nước hồ là kết quả của mưa và quy trình vận hành.

Xả lũ và những thay đổi bất thường

Khi mưa lớn kéo dài và nước về hồ vượt khả năng tích, đơn vị vận hành có thể phải xả nước qua đập tràn theo quy trình. Phía thượng lưu như vùng Tà Đùng, xả lũ không làm nước dâng như ở hạ du, nhưng những ngày nước về lớn thì mặt hồ dâng nhanh, dòng chảy mạnh ở một số đoạn, nhiều rác cành trôi, đi thuyền nguy hiểm hơn.

Theo quy định về vận hành hồ chứa, việc xả lũ phải được thông báo trước cho chính quyền và người dân vùng bị ảnh hưởng, chủ yếu ở hạ du. Người dân ven hồ nên theo dõi thông báo của xã, thôn, tránh ra giữa hồ những ngày nước lên nhanh, buộc chắc thuyền và lồng cá.

Thay đổi bất thường còn có thể đến từ việc hồ hạ nước nhanh hơn thường lệ vào những năm khô hạn, khi nhu cầu nước hạ du lớn. Lúc ấy bờ hồ lộ ra rộng hơn, bến xa hơn, và bờ đất vừa ngấm nước dễ sạt khi nước rút nhanh.

An toàn ven hồ cho gia đình

Hồ chứa thủy điện nguy hiểm theo những cách mà người quen sông suối hay biển có thể không lường trước: nước sâu ngay sát bờ ở chỗ bờ dốc, đáy có gốc cây, hố sâu không nhìn thấy; nước lạnh ở dưới sâu; bờ bùn lún khi nước rút. Đuối nước ở hồ chứa là tai nạn đã xảy ra ở nhiều hồ thủy điện trên cả nước, thường với trẻ em và người tắm hồ.

Những điều các gia đình ven hồ thường dặn nhau: trẻ em không ra hồ một mình, không tắm hồ, không đi trên dải bùn lún mùa khô; người lớn đi thuyền luôn mặc áo phao; không đi thuyền khi có giông, sương dày; biết chỗ nào nước sâu đột ngột. Học bơi và kỹ năng an toàn dưới nước cho trẻ là việc nên làm.

Khi có người gặp nạn dưới nước, gọi người hỗ trợ ngay, ném vật nổi thay vì nhảy xuống cứu khi không có kỹ năng. Những hướng dẫn sơ cứu đuối nước được các cơ sở y tế, trường học phổ biến; người sống ven hồ nên học trước.

Hồ thay đổi thời tiết quanh bờ

Mặt hồ rộng làm thời tiết ven bờ khác vùng đồi xa hồ. Nước hấp thụ nhiệt chậm và nhả nhiệt chậm, nên ven hồ ban ngày mát hơn, ban đêm bớt lạnh đột ngột hơn so với thung khuất gió. Hơi nước bốc từ mặt hồ làm không khí ven bờ ẩm hơn, sương sớm dày hơn, nhất là mùa khô khi đêm lạnh mà nước hồ còn ấm.

Gió cũng khác. Ban ngày, mặt đất nóng nhanh hơn mặt nước, gió có xu hướng thổi từ hồ vào bờ; ban đêm ngược lại. Hiện tượng gió hồ này nhẹ nhưng đều, làm ven hồ thoáng mát vào buổi chiều. Kết hợp với gió mùa, mặt hồ chiều mùa khô hay có sóng.

Khi hồ thu hẹp cuối mùa khô, ảnh hưởng điều hoà của nước giảm theo; vùng bờ lộ đất nóng lên nhanh giữa trưa. Người ở ven hồ lâu năm cảm nhận được sự khác biệt giữa những tháng hồ đầy và những tháng hồ cạn, không chỉ ở cảnh mà ở cả cái mát.

Nước hồ trong sinh hoạt ven bờ

Một số hộ ven hồ dùng nước hồ cho tưới rau, chăn nuôi, tắm giặt, nhất là mùa khô khi giếng cạn. Chất lượng nước hồ thay đổi theo mùa: đầu mùa mưa đục vì bùn đất và có thể mang theo phân bón, thuốc bảo vệ thực vật từ vườn trên lưu vực; mùa khô trong hơn nhưng vùng nước tù gần bờ có thể có rêu tảo.

Nước hồ không nên dùng trực tiếp để ăn uống. Nếu cần dùng cho sinh hoạt, nên lắng, lọc và đun sôi; tốt hơn là dùng nguồn nước đã được xử lý. Khi trong nhà có người bị tiêu chảy, ngứa da sau khi dùng nước hồ, nên báo trạm y tế.

Giữ nước hồ sạch là việc của mọi người trong lưu vực: không xả rác, xác động vật, vỏ chai thuốc bảo vệ thực vật xuống suối và hồ, không rửa bình phun ở mép nước. Hồ là nguồn nước chung của người nuôi cá, người dân ven bờ và cả vùng hạ du.

Câu hỏi thường gặp

Hồ Tà Đùng đầy nước nhất vào tháng nào?

Thường vào cuối mùa mưa, khoảng tháng 10 tới tháng 12, khi hồ đã tích nước suốt mùa mưa. Thời điểm cụ thể mỗi năm khác nhau, tùy lượng mưa và quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Đồng Nai.

Khi nào nước hồ Tà Đùng xuống thấp nhất?

Thường vào cuối mùa khô, khoảng tháng 4 tới tháng 6, sau nhiều tháng hồ xả nước để phát điện và cấp nước hạ du. Lúc này dải đất bán ngập lộ rộng, nhiều đảo nối bờ, bến thuyền phải dời xuống theo mép nước.

Có được trồng cây trên đất bán ngập ven hồ không?

Ở nhiều hồ thủy điện, người dân canh tác ngắn ngày trên đất bán ngập mùa khô, nhưng đất này thường thuộc phạm vi quản lý hồ chứa. Không được làm công trình cố định, san lấp, rào chắn. Nên hỏi UBND xã về quy định hiện hành trước khi sử dụng.

Hồ xả lũ có ảnh hưởng tới người ở Tà Đùng không?

Vùng Tà Đùng ở thượng lưu nên không bị nước dâng như hạ du khi xả lũ, nhưng những ngày nước về lớn mặt hồ dâng nhanh, dòng chảy mạnh, nhiều rác trôi, đi thuyền nguy hiểm hơn. Nên theo dõi thông báo của xã, thôn.

Vì sao bến thuyền ven hồ Tà Đùng hay đổi chỗ?

Vì mép nước dịch chuyển theo mực nước hồ. Mùa khô bến phải xuống thấp, xa đường; mùa nước đầy bến lên sát chân đồi. Nhiều bến là bến tự nhiên trên bờ thoải nên dời theo mép nước mỗi mùa.

Tắm hồ Tà Đùng có nguy hiểm không?

Có. Hồ chứa có chỗ nước sâu ngay sát bờ, đáy có gốc cây và hố không nhìn thấy, nước dưới sâu lạnh, bờ bùn lún khi nước rút. Trẻ em không nên ra hồ một mình; đi thuyền luôn mặc áo phao và tránh khi có giông.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0918 83 22 83