Giữa và cuối mùa khô, khoảng tháng 1 tới tháng 4, Tà Đùng bước vào những tuần nắng hanh: trời xanh không mây, độ ẩm không khí xuống thấp, gió đông bắc thổi mạnh vào đầu mùa rồi yếu dần, ban ngày nắng gắt dù đêm còn lạnh. Đường đất bốc bụi đỏ, cỏ khô vàng, giếng nông và suối nhỏ cạn dần. Đây là thời gian dễ đi lại nhất trong năm nhưng cũng là lúc nước sinh hoạt và sức khoẻ cần được để ý nhất.
Chuyện nước tưới vườn mùa khô đã có trong danh mục nông nghiệp và sinh kế của trang. Bài này tập trung vào thời tiết và sinh hoạt trong nhà: vì sao không khí khô, bụi đỏ đến từ đâu, giữ nước dùng trong gia đình ra sao, và những ảnh hưởng thường gặp tới sức khoẻ. Mốc tháng là gần đúng, mỗi năm có thể lệch.
Vì sao không khí mùa khô ở cao nguyên khô tới vậy
Gió mùa đông bắc khi tới Tây Nguyên đã mất phần lớn hơi ẩm ở sườn đông dãy Trường Sơn. Khi luồng khí này đổ xuống cao nguyên, nó còn nóng lên và khô thêm. Thêm bầu trời không mây, nắng chiếu trực tiếp, mặt đất và lá cây mất nước nhanh. Kết quả là độ ẩm không khí ban ngày có thể xuống thấp hơn hẳn so với mùa mưa.
Ở vùng hồ, mặt nước lớn bù lại một phần hơi ẩm: sáng sớm vẫn có sương, ven hồ ẩm hơn đỉnh đồi. Nhưng càng vào cuối mùa khô, khi mặt hồ thu hẹp, ngày dài nắng gắt, sự khác biệt ấy giảm dần. Những ngày giữa trưa tháng 3, tháng 4 có thể khô và nóng, gió nhẹ mang theo hơi nóng từ mặt đất.
Cảm giác của người sống ở đây là: da khô căng, môi nẻ, họng rát khi nói nhiều ngoài trời, quần áo phơi một buổi đã khô cong. Gỗ trong nhà co lại, khe ván rộng ra. Đây là những dấu hiệu quen thuộc của mùa khô cao nguyên.
Gió mùa khô: mạnh đầu mùa, lặng dần cuối mùa
Những tuần đầu và giữa mùa khô, gió đông bắc thổi đều, có ngày mạnh, nhất là buổi chiều trên đỉnh đồi và mặt hồ trống. Gió làm khô đất nhanh, thổi bụi, làm lá cà phê, lá tiêu mất nước, và quạt lửa khi có cháy. Mái tôn, bạt phơi, đồ nhẹ ngoài sân cần được chằng buộc.
Về cuối mùa khô, khoảng tháng 3, tháng 4, gió yếu dần, không khí trở nên oi, nắng gắt hơn. Đây là giai đoạn chuyển sang mùa mưa: trời nóng tích tụ hơi ẩm, chuẩn bị cho những trận giông đầu mùa. Nhiều người thấy cuối mùa khô là quãng khó chịu nhất năm vì vừa nóng vừa thiếu nước.
Gió khô còn là thứ làm nông sản phơi nhanh khô: cà phê, tiêu trải trên sân gặp nắng hanh và gió đều thì khô đẹp hơn hẳn so với mùa ẩm. Đó là lý do mùa thu hoạch rơi vào mùa khô được coi là một lợi thế của khí hậu vùng này, dù gió cũng thổi bụi đỏ vào sân phơi gần đường.
Trên mặt hồ, gió mùa khô tạo sóng đều vào buổi chiều; người đi thuyền nhỏ thường chọn buổi sáng khi hồ lặng. Đây cũng là lý do người dân ven hồ hay nói hồ mùa khô "êm sáng, động chiều".
Bụi đỏ: món quà khó chịu của đất bazan
Đất đỏ bazan khô đi thì vỡ thành hạt mịn, chỉ cần một chiếc xe chạy qua là bốc thành đám bụi đỏ. Mùa khô, những con đường đất ở Tà Đùng phủ một lớp bụi dày, cây hai bên đường đỏ lá, nhà sát đường phải lau chùi liên tục. Đường đã bê tông thì đỡ hơn nhưng đất từ vườn, từ bánh xe vẫn theo lên mặt đường.
Bụi đỏ bám vào quần áo phơi, lọt vào nhà, phủ lên nông sản đang phơi gần đường. Người dân sống ven đường đất thường phơi quần áo phía sau nhà, che chắn sân phơi bằng lưới, và tưới ẩm mặt sân hay đoạn đường trước nhà khi có nước. Người đi xe máy đeo khẩu trang, kính, mặc áo dài tay.
Với sức khoẻ, bụi mịn có thể làm nặng thêm các bệnh hô hấp, viêm mũi, viêm mắt. Trẻ nhỏ chơi gần đường đất, người già có bệnh phổi nên hạn chế tiếp xúc lâu. Khi có triệu chứng kéo dài, nên gặp nhân viên y tế hoặc bác sĩ thay vì tự dùng thuốc.
Nguồn nước sinh hoạt của gia đình qua mùa khô
Bảng mô tả các nguồn nước sinh hoạt phổ biến ở vùng cao nguyên Đắk Nông cũ và cách chúng thay đổi qua mùa khô, theo quy luật chung. Từng thôn, từng hộ có điều kiện khác nhau.
| Nguồn nước | Đầu mùa khô | Cuối mùa khô | Điều cần để ý |
|---|---|---|---|
| Giếng đào nông | Còn đủ nước | Mực nước hạ, có giếng cạn | Đào sâu thêm phải an toàn; nước đáy dễ đục |
| Giếng khoan | Ổn định | Có thể giảm lưu lượng khi nhiều nhà cùng bơm | Khai thác nước dưới đất theo quy định hiện hành |
| Nước suối dẫn về | Còn chảy | Suối nhỏ cạn, suối lớn còn ít | Dễ nhiễm bẩn; cần lọc, đun sôi |
| Bể chứa nước mưa | Đầy từ mùa mưa | Cạn dần | Đậy kín chống muỗi; vệ sinh trước mùa mưa |
| Nước máy nông thôn (nếu có) | Ổn định | Có thể cấp theo giờ khi thiếu nguồn | Theo thông báo của đơn vị cấp nước |
Nhiều hộ dùng kết hợp hai, ba nguồn: nước mưa hay nước máy để ăn uống, giếng cho tắm giặt, nước suối hay hồ cho chăn nuôi và tưới rau.
Giữ nước dùng trong nhà khi giếng hạ
Những cách tiết kiệm nước sinh hoạt mà các gia đình vùng cao nguyên hay áp dụng trong mùa khô đều đơn giản: tích nước vào bồn, lu vào giờ giếng còn nhiều nước buổi sáng; dùng lại nước vo gạo, rửa rau để tưới cây; giặt gom một lần; sửa ngay vòi rò, ống rò. Những việc nhỏ cộng lại có thể kéo dài nguồn nước thêm vài tuần.
Đào sâu giếng khi giếng cạn là việc nguy hiểm: dưới đáy giếng có thể thiếu không khí hoặc tích khí độc, đã có những tai nạn thương tâm ở nhiều nơi. Việc này nên để người có kinh nghiệm làm, có biện pháp thông gió, dây an toàn và người trực trên miệng giếng.
Khi thiếu nước nghiêm trọng, chính quyền xã và thôn thường có phương án hỗ trợ như chở nước, ưu tiên các hộ khó khăn. Theo dõi thông báo của thôn và báo sớm cho trưởng thôn khi giếng nhà cạn hẳn là cách để được hỗ trợ kịp thời.
Sức khoẻ trong những tuần nắng hanh
Chênh lệch nhiệt độ ngày đêm lớn và không khí khô là hai yếu tố hay gây khó chịu trong mùa khô. Người lớn tuổi và trẻ nhỏ dễ bị khô da, nứt nẻ, chảy máu cam, viêm họng. Uống đủ nước, giữ ấm buổi sáng tối, che nắng buổi trưa, dùng kem dưỡng ẩm cho da là những việc thông thường giúp đỡ khó chịu.
Người làm việc ngoài trời giữa trưa cuối mùa khô — hái tiêu, tưới vườn, làm đường — có nguy cơ say nắng, mất nước. Nghỉ trong bóng râm vào giờ nắng gắt nhất, uống nước thường xuyên, đội nón rộng vành và mặc áo dài tay thoáng là những khuyến cáo chung của ngành y tế cho lao động ngoài trời.
Khi có biểu hiện như chóng mặt, buồn nôn, đau đầu dữ dội sau khi làm việc ngoài nắng, cần đưa vào chỗ mát, cho uống nước và tới cơ sở y tế nếu không đỡ. Với những vấn đề sức khoẻ kéo dài, nên gặp bác sĩ để được khám và tư vấn phù hợp.
Mùa khô và nhà cửa, đồ đạc
Không khí khô làm gỗ co ngót: khe vách ván rộng ra, cửa gỗ có thể lỏng bản lề, đồ gỗ nứt. Đây là lúc tốt để sửa chữa nhà cửa, vì vật liệu khô, trời ráo, nhưng nên chèn lại khe vách trước khi đêm lạnh nhất tới.
Mái tôn hấp nhiệt mạnh giữa trưa cuối mùa khô, trong nhà có thể nóng bức dù sáng sớm còn lạnh. Lót cách nhiệt dưới mái, trồng cây che bóng phía tây, mở cửa thông gió buổi trưa giúp nhà dễ chịu hơn. Nhiều nhà ở vùng này có hiên rộng chính vì lý do đó.
Mùa khô cũng là mùa nguy cơ cháy: bếp củi, đống rác đốt, dây điện cũ, rơm rạ chất gần nhà đều có thể bắt lửa nhanh trong không khí khô và gió. Chuyện phòng cháy được viết riêng trong bài về mùa cháy rừng của danh mục này.
Điều tốt của mùa khô
Bên cạnh những khó chịu, mùa khô là mùa mà nhiều việc ở Tà Đùng diễn ra thuận lợi nhất. Đường đất đi được, xe chở nông sản ra vào dễ dàng; công trình xây dựng, sửa đường, làm nhà thi công được; muỗi ít hơn mùa mưa; trời trong để phơi nông sản.
Đây cũng là mùa của lễ Tết, cưới hỏi, các hoạt động cộng đồng ngoài trời. Những đêm trời quang, sao rất rõ, không khí trong. Với nhiều người, đó là lý do mùa khô là mùa đẹp nhất của cao nguyên.
Với trẻ em, mùa khô là mùa đi học dễ nhất: đường không lầy, không phải lội suối, sáng có sương nhưng trưa về khô ráo. Với người buôn bán, đây là mùa có tiền sau thu hoạch, chợ đông, hàng hoá lưu thông nhiều.
Sống tốt qua mùa khô là biết tận dụng cái thuận và chuẩn bị cho cái thiếu: nước, độ ẩm, phòng cháy. Người ở lâu ở Tà Đùng đều có lịch riêng cho những việc này, bắt đầu từ ngay khi những cơn mưa cuối cùng của năm vừa dứt.
Chăn nuôi qua mùa khô: cỏ khô và nước uống cho gia súc
Mùa khô kéo dài làm đồng cỏ tự nhiên trên đồi khô vàng, bò, dê chăn thả thiếu thức ăn xanh vào giữa và cuối mùa. Người chăn nuôi ở vùng cao nguyên thường chuẩn bị từ cuối mùa mưa: phơi rơm, cỏ khô, ủ thân cây bắp, trồng một khoảnh cỏ có tưới gần nhà. Những năm mùa khô kéo dài, giá cỏ, rơm có thể tăng và gia súc gầy đi rõ.
Nước uống cho gia súc cũng căng thẳng khi suối cạn. Nhiều hộ cho bò xuống hồ uống nước ở những bến thoải, nhưng mùa khô mép nước lùi xa, đường xuống qua dải bùn có thể làm gia súc sa lầy. Bể chứa, máng nước gần chuồng là cách an toàn hơn.
Gia cầm, heo nuôi trong chuồng chịu ảnh hưởng của nắng nóng cuối mùa khô: chuồng mái tôn nóng bức giữa trưa. Che mát mái chuồng, bảo đảm đủ nước uống là việc thường làm. Khi gia súc có dấu hiệu bệnh, nên liên hệ cán bộ thú y của xã.
Câu hỏi thường gặp
Mùa khô ở Tà Đùng kéo dài bao lâu?
Thường khoảng từ tháng 11 tới tháng 4 năm sau, tức khoảng năm sáu tháng. Những tuần nắng hanh, độ ẩm thấp và thiếu nước rõ nhất thường rơi vào giữa và cuối mùa, khoảng tháng 1 tới tháng 4. Mốc cụ thể thay đổi theo từng năm.
Vì sao mùa khô ở Tà Đùng nhiều bụi đỏ?
Đất đỏ bazan khi khô vỡ thành hạt mịn, xe chạy qua đường đất là bốc thành bụi. Gió mùa khô thổi bụi đi xa hơn. Đường bê tông đỡ bụi hơn, nhưng đất từ vườn và bánh xe vẫn theo lên mặt đường.
Giếng nhà cạn mùa khô thì nên làm gì?
Tích nước vào giờ giếng còn nước, tiết kiệm, dùng kết hợp nguồn khác. Không tự đào sâu giếng nếu không có kinh nghiệm vì nguy cơ thiếu không khí, khí độc. Báo trưởng thôn khi cạn hẳn để được hỗ trợ theo phương án của xã.
Mùa khô ảnh hưởng sức khoẻ thế nào?
Không khí khô và chênh lệch nhiệt độ ngày đêm dễ gây khô da, nứt nẻ, chảy máu cam, viêm họng; bụi đỏ làm nặng thêm bệnh hô hấp; làm việc giữa trưa cuối mùa có nguy cơ say nắng. Có triệu chứng kéo dài nên gặp bác sĩ.
Nước suối mùa khô có dùng được không?
Suối nhỏ cạn dần, nước còn lại thường chảy chậm và dễ nhiễm bẩn từ vườn, chăn nuôi phía trên. Nếu bắt buộc dùng cho sinh hoạt thì phải lọc, đun sôi; ăn uống nên ưu tiên nguồn đã xử lý như nước mưa hứng sạch hay nước máy.
Mùa khô ở Tà Đùng có gì thuận lợi?
Đường đất dễ đi, chở nông sản thuận tiện, xây dựng sửa chữa nhà cửa làm được, ít muỗi, trời trong để phơi nông sản. Đây cũng là mùa của lễ Tết, cưới hỏi và các hoạt động cộng đồng ngoài trời.