Nông sản của xã Tà Đùng phần lớn đi theo một chuỗi ngắn: nhà vườn hái, phơi hoặc bán tươi; người gom trong thôn hay đại lý ở trung tâm xã mua lại; rồi xe tải chở ra quốc lộ 28 về các điểm thu mua lớn ở Gia Nghĩa và xa hơn. Một phần đi qua hợp tác xã hoặc liên kết với doanh nghiệp, nhất là hàng cần chứng nhận nguồn gốc.
Bài này mô tả chuỗi ấy từ phía người trồng: nông hộ có những lựa chọn nào khi bán, vì sao người này phơi khô còn người kia bán tươi, gửi kho là gì, hợp tác xã giúp được gì và đổi gì sau khi xã Đắk Som, Đắk R'Măng cũ nhập thành xã Tà Đùng. Phần vận hành của doanh nghiệp thu mua và chuyện liên kết chuỗi ở tầm doanh nghiệp thuộc các trang khác trong hệ Tà Đùng.
Sau khi hái: sân phơi là kho đầu tiên
Cà phê vối hái về ở Tà Đùng chủ yếu được chế biến khô: quả tươi rải trên sân xi măng, tấm bạt hoặc giàn, phơi nắng nhiều ngày, cào trở đều cho tới khi khô hẳn, rồi xay bỏ vỏ thành cà phê nhân. Cách này đơn giản, hợp với nông hộ, nhưng phụ thuộc vào nắng. Mùa hái trùng cuối mùa mưa, gặp mưa trái mùa thì cà phê trên sân dễ mốc, chua, mất giá.
Vì vậy sân phơi là tài sản quan trọng của nhà vườn. Nhà có sân rộng có thể tự phơi toàn bộ, chủ động thời điểm bán. Nhà ít sân phải phơi dồn, phơi dày, hoặc bán quả tươi ngay. Nhiều nhà ở dốc làm sân phơi trên nền đất san phẳng, có mái che di động bằng bạt để kéo khi mưa.
Một số hộ và cơ sở bắt đầu làm cà phê chế biến kỹ hơn: hái toàn quả chín, phơi trên giàn cao cách mặt đất, hoặc làm theo kiểu bóc vỏ giữ nhớt. Hàng làm kỹ bán được cho những người mua cần cà phê chất lượng cao, nhưng đòi hỏi nhiều công, dụng cụ và đầu ra ổn định, nên hiện vẫn là phần nhỏ so với cà phê phơi khô thông thường của xã.
Hồ tiêu cũng phơi trên sân, bạt; sau khi khô thì đập, sàng tách hạt. Sầu riêng, bơ bán tươi ngay tại vườn cho thương lái, không qua sân phơi. Mắc ca thu hạt rồi phơi hoặc bán tươi cho cơ sở sấy. Mỗi loại nông sản vì vậy có một đường đi riêng, nhưng cùng đổ về một số mối thu mua chung trong vùng.
Ba cách bán cà phê phổ biến của nông hộ
Ba cách dưới đây không loại trừ nhau: nhiều hộ bán một phần tươi để có tiền trả công hái, phần còn lại phơi khô rồi bán dần hoặc gửi kho.
| Cách bán | Khi nào hộ chọn | Lợi | Rủi ro cần biết |
|---|---|---|---|
| Bán quả tươi ngay | Thiếu sân phơi, cần tiền trả công, sợ mưa | Có tiền nhanh, đỡ công phơi | Giá quy đổi thấp hơn, phụ thuộc người mua tại chỗ |
| Phơi khô, xay nhân, bán ngay | Có sân, có thời gian | Giá cao hơn so với quả tươi quy đổi | Tốn công, mưa trái mùa làm hỏng hàng |
| Gửi kho đại lý, chốt giá sau | Muốn chờ giá, không có chỗ cất | Có thể bán được giá tốt hơn | Đại lý mất khả năng chi trả thì nông hộ mất hàng |
Rủi ro lớn nhất của gửi kho là phụ thuộc vào uy tín đại lý. Đã có những vụ đại lý ở Tây Nguyên vỡ nợ khiến nông dân gửi hàng mất trắng. Khi gửi kho, nông hộ nên giữ phiếu gửi ghi rõ khối lượng, chất lượng, ngày gửi, điều kiện chốt giá và chữ ký của bên nhận; không gửi toàn bộ vào một nơi.
Những người mua trong chuỗi
Người gom trong thôn. Đi xe tải nhỏ vào tận vườn, mua quả tươi hoặc nhân khô với khối lượng nhỏ. Tiện cho nhà xa đường, nhưng giá thường thấp hơn vì người gom phải trừ chi phí chở.
Đại lý ở trung tâm xã hoặc dọc đường lớn. Có kho, có cân, có máy xay, mua khối lượng lớn hơn và nhận gửi kho. Nhiều đại lý cũng bán phân bón trả chậm, nên quan hệ mua bán gắn với quan hệ nợ vật tư.
Thương lái trái cây. Với sầu riêng, bơ, thương lái từ nơi khác đến mua theo vườn hoặc theo ký, thường đặt cọc trước. Hợp đồng mua bán trái cây theo vườn nên ghi rõ thời điểm cắt, tiêu chuẩn trái, cách xử lý khi giá biến động.
Hợp tác xã, tổ hợp tác. Gom hàng của thành viên, có thể ký hợp đồng với doanh nghiệp, hỗ trợ ghi chép nhật ký vườn và làm hồ sơ chứng nhận.
Doanh nghiệp liên kết. Một số doanh nghiệp xuất khẩu ký trực tiếp với nhóm hộ hoặc hợp tác xã, yêu cầu tiêu chuẩn canh tác và truy xuất nguồn gốc, đổi lại có thể mua giá tốt hơn cho hàng đạt chuẩn.
Chất lượng hạt và những điểm hay tranh cãi khi bán
Giá mua cà phê nhân không chỉ dựa trên cân nặng mà còn trên độ ẩm, tỷ lệ hạt đen, hạt vỡ, tạp chất và cỡ hạt. Đại lý thường đo độ ẩm bằng máy, rồi trừ khối lượng nếu hạt chưa đủ khô hoặc lẫn nhiều tạp chất. Đây là điểm hay sinh tranh cãi giữa người bán và người mua, vì máy đo, cách lấy mẫu và mức trừ mỗi nơi một kiểu.
Để giữ quyền lợi, nông hộ nên phơi đủ khô trước khi bán, sàng bớt tạp chất, chứng kiến việc lấy mẫu và đo độ ẩm, hỏi rõ mức trừ trước khi cân. Với quả tươi, cần biết người mua quy đổi theo tỷ lệ nào. Nếu nghi cân sai, có thể đề nghị cân lại hoặc dùng cân đối chứng mà nhiều xã đặt ở trụ sở hoặc chợ để người dân tự kiểm.
Với sầu riêng, tranh cãi thường nằm ở khâu loại trái: thương lái chỉ lấy trái đạt chuẩn, trái nhỏ, trái lỗi bị trả lại hoặc mua giá thấp. Thoả thuận rõ tiêu chuẩn trái từ lúc đặt cọc giúp tránh chuyện mặc cả căng thẳng lúc cắt.
Hợp tác xã: được gì, khó gì
Hợp tác xã nông nghiệp vận hành theo Luật Hợp tác xã 2023, là tổ chức do thành viên tự nguyện lập, cùng góp vốn và cùng hưởng lợi. Ở vùng cà phê như Tà Đùng, hợp tác xã có thể giúp nông hộ mua vật tư chung với giá tốt hơn, bán hàng chung để có sức thương lượng, tiếp cận các chương trình hỗ trợ của nhà nước, và làm được những thủ tục mà một hộ khó tự làm như chứng nhận sản xuất bền vững hay mã số vùng trồng.
Cái khó là hợp tác xã cần người quản lý giỏi và thành viên tin nhau. Ở nhiều nơi, hợp tác xã lập ra nhưng hoạt động cầm chừng vì thiếu vốn, thiếu người làm sổ sách, hoặc thành viên vẫn bán riêng cho đại lý quen khi giá lệch một chút. Thành viên cũng phải chịu thay đổi cách làm: ghi nhật ký vườn, dùng phân thuốc theo danh mục được phép, hái chín.
Ngoài hợp tác xã, nhiều thôn có tổ hợp tác hoặc nhóm hộ liên kết: vài chục hộ cùng trồng theo một quy trình, cùng bán cho một doanh nghiệp, cùng chia nhau thuê máy móc. Hình thức này lỏng hơn, không cần góp vốn nhiều, hợp với những nơi người dân chưa sẵn sàng lập hợp tác xã. Các chương trình khuyến nông, hỗ trợ giống, hỗ trợ chứng nhận thường ưu tiên làm việc với nhóm hộ có tổ chức hơn là từng hộ riêng lẻ, vì dễ tập huấn và dễ theo dõi kết quả.
Người muốn tìm hiểu hợp tác xã đang hoạt động ở xã nên hỏi UBND xã Tà Đùng hoặc tra danh bạ doanh nghiệp của trang. Khi tham gia, cần đọc điều lệ, hiểu rõ quyền và nghĩa vụ góp vốn, cách chia lãi và cách rút khỏi hợp tác xã.
Truy xuất nguồn gốc và giấy tờ sau sáp nhập
Những năm gần đây, các thị trường nhập khẩu lớn đòi hỏi nông sản phải chứng minh không gây mất rừng và có nguồn gốc rõ. Với cà phê đi châu Âu, quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) khiến doanh nghiệp thu mua cần biết hàng đến từ mảnh vườn nào, vị trí ra sao. Với sầu riêng xuất khẩu, mã số vùng trồng là điều kiện để hàng được chấp nhận ở một số thị trường.
Ở Tà Đùng, nơi nhiều vườn nằm gần Vườn quốc gia và rừng phòng hộ, yêu cầu này đặc biệt đáng chú ý. Vườn nằm trên đất có giấy tờ rõ, không lấn rừng, có ghi chép canh tác sẽ dễ bán cho người mua cần chứng nhận. Vườn không rõ nguồn gốc đất có thể bị người mua lớn từ chối dù chất lượng hạt tốt.
Sau khi Đắk Som, Đắk R'Măng nhập thành xã Tà Đùng và tỉnh Đắk Nông nhập vào Lâm Đồng, hồ sơ mã số vùng trồng, hợp đồng liên kết, giấy chứng nhận của nông hộ hay hợp tác xã có thể vẫn ghi địa danh cũ. Nông hộ nên hỏi đơn vị đã cấp mã hoặc doanh nghiệp liên kết xem có cần cập nhật không, tránh để hàng bị chậm ở khâu kiểm tra.
Ra quốc lộ 28: chặng đường đắt nhất
Từ vườn trong đồi ra đường lớn thường là đoạn tốn kém nhất trong chuỗi, tính trên mỗi tấn hàng. Đường thôn hẹp, dốc, mùa mưa lầy, xe tải lớn không vào được, nên hàng phải chuyển qua xe nhỏ, xe công nông hoặc xe máy rồi tập kết ra điểm xe tải lấy. Từ trung tâm xã, hàng theo đường liên xã ra quốc lộ 28 rồi về Gia Nghĩa hoặc đi tiếp các tỉnh.
Mùa hái cà phê cũng là mùa xe chạy dày nhất trên các tuyến này. Xe chở nặng xuống dốc dài, đường trơn sau mưa, sương mù sáng sớm ở những đoạn đèo là nguyên nhân của nhiều sự cố. Người chở hàng có kinh nghiệm thường chằng buộc kỹ, không chở quá tải, đi chậm qua đoạn dốc và tránh chạy khi sương còn dày. Chủ hàng nên hỏi người chở về bạt che mưa, vì cà phê nhân bị ướt giữa đường cũng mất giá như bị ướt trên sân.
Chi phí và rủi ro của chặng này giải thích vì sao cùng một loại cà phê, nhà ở sâu trong đồi thường bán được giá thấp hơn nhà ven đường. Khi đường thôn được bê tông hoá, khoảng chênh này thu hẹp, và đó là lý do người dân các thôn xa luôn coi làm đường là việc lớn nhất cần đóng góp.
Câu hỏi thường gặp
Nông dân Tà Đùng thường bán cà phê cho ai?
Phổ biến nhất là bán cho người gom trong thôn hoặc đại lý ở trung tâm xã, dọc đường lớn. Một phần bán qua hợp tác xã hoặc liên kết trực tiếp với doanh nghiệp xuất khẩu, nhất là hàng cần chứng nhận nguồn gốc.
Gửi kho cà phê ở đại lý có an toàn không?
Gửi kho giúp chờ giá nhưng phụ thuộc vào uy tín và khả năng tài chính của đại lý. Nên giữ phiếu gửi ghi rõ khối lượng, chất lượng, ngày gửi, điều kiện chốt giá, có chữ ký bên nhận, và không gửi toàn bộ hàng vào một nơi.
Vì sao bán cà phê tươi thường thiệt hơn phơi khô?
Người mua quả tươi phải tự phơi, chịu rủi ro thời tiết và hao hụt, nên quy đổi về giá nhân thường thấp hơn. Bù lại, nông hộ có tiền nhanh và khỏi lo mưa làm hỏng hàng trên sân.
Hợp tác xã giúp gì cho nông dân trồng cà phê?
Hợp tác xã có thể mua vật tư chung, bán hàng chung, hỗ trợ ghi chép vườn, làm hồ sơ chứng nhận và mã số vùng trồng, tiếp cận chương trình hỗ trợ. Hiệu quả phụ thuộc nhiều vào người quản lý và sự gắn bó của thành viên.
Quy định chống phá rừng của châu Âu ảnh hưởng gì tới cà phê Tà Đùng?
Doanh nghiệp xuất khẩu sang châu Âu cần chứng minh cà phê không đến từ đất mới phá rừng, nên cần biết vị trí vườn. Vườn có giấy tờ đất rõ, không lấn rừng, có ghi chép canh tác sẽ thuận lợi hơn khi bán cho các doanh nghiệp này.
Mã số vùng trồng ghi địa danh cũ có phải làm lại không?
Chưa chắc phải làm lại, nhưng nên hỏi đơn vị đã cấp mã hoặc doanh nghiệp liên kết xem có cần cập nhật tên xã Tà Đùng, tỉnh Lâm Đồng không. Việc cập nhật sớm giúp tránh chậm trễ khi hàng được kiểm tra.