Ngoài vườn nhà, người ở Tà Đùng kiếm sống chủ yếu bằng làm thuê theo mùa cho các vườn lớn (hái cà phê, làm cỏ, bón phân, tưới), làm thợ xây và phụ hồ, chở hàng, buôn bán nhỏ, và gần đây là các việc gắn với khách đến hồ. Việc nhiều nhất vào mùa hái cà phê cuối năm; giữa mùa mưa việc thưa hơn và người ta chuyển qua làm thợ, làm hồ hoặc đi làm xa.
Nhóm sống bằng việc làm ngoài vườn nhà gồm người ít đất hoặc không có đất, người trẻ mới ra riêng, người từ nơi khác đến theo mùa, và cả chủ vườn nhỏ muốn thêm thu nhập lúc nông nhàn. Bài này mô tả các loại việc, cách tính công thường gặp và những điều nên thoả thuận rõ, không nêu mức tiền công cụ thể vì nó đổi theo từng năm, từng thôn.
Vì sao ở Tà Đùng luôn có người đi làm thuê
Vùng Đắk Som và Đắk R'Măng cũ được khai phá qua nhiều đợt. Người đến sớm có đất rộng, người đến sau đất ít hoặc phải mua lại, có hộ đã bán bớt đất trong những năm khó khăn. Cùng lúc, vườn cà phê xen cây trái cần nhiều công vào những thời điểm nhất định mà một gia đình nhỏ không tự làm xuể. Hai điều này gặp nhau tạo ra một thị trường lao động nông nghiệp ngay trong xã.
Đặc điểm của thị trường này là lên xuống theo mùa. Mùa hái cà phê, vườn lớn cần cả chục người trong vài tuần; giữa mùa mưa, việc chủ yếu là làm cỏ, cắt chồi, nhiều chủ vườn tự làm. Vì vậy người sống bằng làm thuê thường không bám một việc mà xoay vòng: hái cà phê cuối năm, hái tiêu đầu năm, tưới mùa khô, làm bồn đầu mưa, giữa mùa mưa thì làm hồ hoặc đánh cá.
Ngoài lao động tại chỗ, mùa hái còn kéo người từ nơi khác tới: họ hàng ở quê, người quen của chủ vườn, nhóm thợ hái đi theo mùa qua nhiều vùng cà phê. Người đến ở vài tuần trong lán, trong nhà chủ vườn hoặc nhà trọ, rồi đi khi mùa hết.
Các việc làm thuê thường gặp và cách tính công
Bảng mô tả các việc phổ biến và kiểu tính công hay gặp. Mức tiền không ghi vì thay đổi theo năm, theo thôn và theo thoả thuận; khi cần, hỏi trực tiếp người trong thôn.
| Việc | Mùa | Cách tính công thường gặp | Điều nên nói rõ trước |
|---|---|---|---|
| Hái cà phê | Khoảng tháng 10 – 1 | Theo bao, theo ký quả hoặc theo ngày | Hái chín hay hái tuốt, ai chở quả ra đường |
| Hái tiêu | Khoảng tháng 1 – 4 | Theo ngày hoặc theo khối lượng | Thang, an toàn khi leo trụ cao |
| Tưới nước | Mùa khô | Theo ngày, theo đêm hoặc theo lượt tưới | Ai trực máy, ai lo dầu, điện |
| Làm cỏ, cắt chồi | Mùa mưa | Theo ngày hoặc khoán theo lô | Dùng máy cắt cỏ hay tay, có phun thuốc không |
| Bón phân, làm bồn | Đầu mùa mưa | Theo ngày hoặc khoán | Bảo hộ khi tiếp xúc phân hoá học |
| Phụ hồ, thợ xây | Quanh năm, rộ sau mùa hái | Theo ngày | Giờ làm, ăn trưa, an toàn trên giàn |
Phần lớn thoả thuận ở thôn là miệng, dựa trên sự quen biết. Điều đó tiện nhưng cũng dễ sinh hiểu lầm khi tính tiền cuối mùa, nhất là với người từ nơi khác đến. Ghi lại số ngày, số bao mỗi ngày vào sổ tay hoặc điện thoại là cách đơn giản mà cả chủ và người làm đều nên giữ.
Thợ và công trình: nghề tay chân có tay nghề
Bên cạnh làm thuê nông nghiệp, xã có nhu cầu đều đặn về thợ: thợ xây nhà, làm sân phơi, đổ bê tông đường vào vườn, xây ao chứa, làm chuồng trại, sửa mái sau mùa mưa. Những năm có nhiều người mới đến mua đất làm nhà nghỉ, homestay quanh hồ, nhu cầu thợ xây, thợ mộc, thợ điện nước tăng lên. Thợ có tay nghề thường có việc quanh năm, ổn định hơn làm thuê theo mùa.
Nghề sửa máy cũng quan trọng ở vùng vườn đồi: máy bơm, máy nổ, máy cắt cỏ, máy phun, xe máy, xe công nông đều hỏng thường xuyên, nhất là vào đầu mùa tưới khi máy chạy liên tục. Người biết sửa máy trong thôn được việc gần như suốt mùa khô.
Thợ ở xã phần nhiều học nghề theo kiểu cầm tay chỉ việc. Những ai muốn có chứng chỉ để nhận công trình lớn hơn hay đi làm xa có thể hỏi các lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn mà xã hoặc tỉnh tổ chức theo từng đợt.
Buôn bán nhỏ: tạp hoá, đại lý và người gom hàng
Tạp hoá thôn. Mỗi cụm dân cư thường có vài tiệm tạp hoá bán đồ ăn, gia vị, đồ dùng, thẻ điện thoại, gas. Tiệm cũng là nơi người trong thôn gặp nhau, nghe tin và gửi đồ.
Đại lý vật tư nông nghiệp. Bán phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, ống nước, cây giống, thường cho mua trả chậm tới mùa thu hoạch. Đây là mắt xích quan trọng trong dòng tiền của nông hộ.
Người gom nông sản. Mua cà phê, tiêu, trái cây ở thôn rồi chở ra điểm thu mua lớn hơn. Có người làm quanh năm, có người chỉ làm theo mùa.
Bán hàng ăn, hàng rong. Quán ăn sáng, quán cà phê nhỏ ở trung tâm xã và dọc đường; xe bán rau, thịt, cá chạy vào các thôn xa vào buổi sáng.
Bán nông sản cho khách. Ở những đoạn đường khách hay qua, vài hộ bày bán cà phê, mắc ca, mật ong, trái cây theo mùa. Đây là việc nhỏ nhưng cho thu nhập tiền mặt ngay.
Việc mới quanh hồ: cơ hội và giới hạn
Khi hồ Tà Đùng được biết đến như một điểm ngắm cảnh của cao nguyên, xuất hiện các việc phục vụ khách: chở đò, dọn phòng, nấu ăn, giữ xe, dẫn đường, làm vườn và trông nhà cho các chủ nhà nghỉ ở xa. Với người trẻ trong xã, đây là cơ hội có việc gần nhà, không phải đi làm công ty ở tỉnh xa.
Giới hạn là lượng khách lên xuống theo mùa và theo ngày trong tuần: cuối tuần, dịp lễ đông, ngày thường vắng; mùa mưa đường khó đi, khách ít. Việc phục vụ khách vì vậy phần nhiều là việc bán thời gian, kết hợp với vườn. Người làm việc cho khách cũng cần kỹ năng mới như giao tiếp, giữ vệ sinh, nấu ăn theo khẩu vị khách, an toàn khi chở người trên hồ.
Phần nơi ở, tour và dịch vụ cho khách có các trang chuyên đề riêng trong hệ Tà Đùng. Ở góc sinh kế, điều đáng nói là du lịch mở thêm một nhánh việc làm, nhưng chưa thay được vườn với đa số gia đình.
Phụ nữ, người lớn tuổi và việc làm tại nhà
Trong các nông hộ Tà Đùng, phụ nữ gánh phần lớn việc vườn hằng ngày cùng việc nhà, chăm con, chăn nuôi. Khi đi làm thuê, phụ nữ thường nhận hái cà phê, hái tiêu, làm cỏ, nhặt cành, ít khi nhận việc nặng như vác bao lớn lên dốc. Người lớn tuổi phần nhiều ở nhà trông cháu, chăm gà vịt, đặt lờ ven hồ hoặc làm những việc tay nhẹ như phân loại hạt, đan lát.
Các việc làm tại nhà có thể kể tới: may vá, làm bánh bán ở chợ xã, nấu ăn cho thợ hái mùa cà phê, nhận phơi và sàng tiêu cho nhà khác, dệt thổ cẩm ở một số gia đình đồng bào. Thu nhập từ những việc này không lớn nhưng giữ người không phải rời nhà, và vào mùa hái thì nấu cơm cho thợ là một khoản đáng kể.
Các chương trình hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, như cho vay vốn nhỏ qua hội phụ nữ, ngân hàng chính sách, hay lớp học nghề ngắn hạn, thường được triển khai theo đợt. Người quan tâm nên hỏi hội phụ nữ xã hoặc trưởng thôn để biết đợt gần nhất.
Lao động đồng bào bản địa và việc gắn với rừng
Với nhiều gia đình M'Nông, Mạ sống lâu đời quanh vùng Đắk Som, Đắk R'Măng cũ, đất sản xuất không nhiều do quá trình khai phá và chuyển nhượng trong nhiều năm. Một phần lao động đồng bào đi làm thuê cho các vườn cà phê lớn, phần khác nhận khoán bảo vệ rừng theo tổ, nhóm, đi tuần tra định kỳ, nhận tiền khoán và tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Việc gắn với rừng có ưu điểm là thu nhập đều, gần nhà, dựa trên hiểu biết về rừng mà người bản địa có sẵn. Nhược điểm là khoản tiền nhỏ, phụ thuộc vào ngân sách và chính sách từng giai đoạn. Một số người trẻ đồng bào chọn học nghề, đi làm công nhân, hoặc làm việc ở các cơ sở du lịch quanh hồ nhờ thông thạo vùng đất và đường rừng.
Khi thuê lao động đồng bào, chủ vườn nên tôn trọng lịch lễ của bon làng, những ngày cả cộng đồng nghỉ làm để cúng bái, ăn mừng, và trả công đúng hẹn. Những chủ vườn giữ được quan hệ lâu năm với các gia đình đồng bào thường là người giữ lời trong chuyện tiền công và đối xử công bằng với người làm như với hàng xóm.
Đi làm xa: lối thoát và cái giá
Một phần lớn người trẻ ở Tà Đùng, cũng như nhiều xã vùng cao, chọn đi làm công nhân ở các khu công nghiệp vùng Đông Nam Bộ hoặc làm dịch vụ ở thành phố. Lý do dễ hiểu: lương tháng đều đặn, không phụ thuộc mùa và giá nông sản. Nhiều gia đình sống nhờ cả hai đầu: cha mẹ giữ vườn, con gửi tiền về.
Khoảng cách từ Tà Đùng tới các khu công nghiệp miền Đông khá xa, nên người đi làm thường chỉ về nhà vào dịp Tết hoặc mùa hái cà phê. Nhiều người chọn đi theo nhóm cùng thôn, ở trọ chung, giới thiệu việc cho nhau, giữ được sự gắn bó với quê.
Cái giá là vườn thiếu người, mùa hái phải thuê, người già và trẻ nhỏ ở nhà với nhau. Một số người đi làm vài năm rồi quay về khi có vốn, mở tiệm, mua máy móc hoặc nhận lại vườn của cha mẹ. Dòng người đi và về này là một phần bình thường của sinh kế xã vùng cao hôm nay.
Với người muốn đi làm xa, nên giữ đủ giấy tờ tùy thân với địa chỉ đã cập nhật theo tên xã Tà Đùng và tỉnh Lâm Đồng, tìm việc qua kênh chính thức như trung tâm dịch vụ việc làm của tỉnh, cẩn trọng với những lời mời việc lương cao bất thường qua mạng, nhất là việc ở nước ngoài.
Câu hỏi thường gặp
Mùa nào ở Tà Đùng dễ tìm việc làm thuê nhất?
Mùa hái cà phê, khoảng tháng 10 tới tháng 1, là lúc cần người nhiều nhất. Kế đến là mùa hái tiêu và mùa tưới đầu năm, rồi đợt bón phân làm bồn khi mưa đầu mùa về. Giữa mùa mưa việc nông nghiệp thưa hơn.
Công hái cà phê ở Tà Đùng tính thế nào?
Thường tính theo bao, theo ký quả tươi hoặc theo ngày, tuỳ chủ vườn. Mức tiền đổi theo từng năm và từng thôn nên cần hỏi trực tiếp. Nên thoả thuận trước chuyện hái chín hay hái tuốt, có lo cơm trưa và ai chở quả ra đường.
Người từ nơi khác đến làm mùa vụ cần giấy tờ gì?
Nên mang căn cước công dân và khai báo tạm trú theo quy định về cư trú khi ở lại địa phương một thời gian. Thủ tục cụ thể hỏi công an xã Tà Đùng. Chủ vườn cho người làm ở lại thường hỗ trợ việc khai báo.
Ở Tà Đùng có học nghề miễn phí không?
Các chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số thường được tổ chức theo từng đợt, có lớp hỗ trợ học phí. Thông tin cụ thể nên hỏi UBND xã Tà Đùng hoặc trung tâm dịch vụ việc làm của tỉnh Lâm Đồng.
Làm dịch vụ cho khách du lịch ở hồ Tà Đùng có ổn định không?
Lượng khách tập trung vào cuối tuần, dịp lễ và mùa khô, ngày thường và mùa mưa vắng hơn. Vì vậy phần lớn việc phục vụ khách là bán thời gian, thường kết hợp với vườn hoặc nghề khác chứ ít khi là nguồn thu duy nhất.
Cần cẩn trọng gì khi nhận lời mời đi làm xa?
Nên tìm việc qua kênh chính thức, kiểm tra tên và địa chỉ công ty, không đặt cọc tiền hay giao giấy tờ gốc cho người lạ, cảnh giác với lời mời lương cao bất thường qua mạng, nhất là việc ở nước ngoài.