TaDung.vnTà Đùng
Văn hoá, lễ hội và ẩm thực

Chợ quê Tà Đùng nhìn từ góc văn hoá: hàng đồng bào, tiếng nói và phép mua bán

Chợ quê ở xã Tà Đùng là nơi các cộng đồng gặp nhau: hàng đồng bào M'Nông, Mạ, Mông theo mùa, mua chịu và ghi sổ, tiếng nói ở chợ, phép mua bán và chợ mùa hái cà phê.

Early morning village market under tin roofs, women seen from behind selling bamboo shoots and wild greens from woven baskets on the ground, motorbikes parked, light mist

Chợ quê ở xã Tà Đùng (Lâm Đồng) là nơi hiếm hoi mà mọi cộng đồng trong xã có mặt cùng một lúc: người Kinh giữ sạp cố định, phụ nữ M'Nông, Mạ ngồi ven chợ bán rau rừng, măng, trái vườn, phụ nữ Mông mang rau cải, ngô non, gà nhà; tiếng phổ thông là tiếng chung nhưng xen tiếng M'Nông, tiếng Mông và đủ giọng Kinh. Nhịp chợ đi theo mùa rẫy, mùa hái cà phê và Tết.

Bài này nhìn chợ như một không gian văn hoá của xã nhiều dân tộc: ai bán gì, quan hệ mua bán dựa trên điều gì, người ta nói với nhau bằng tiếng nào, và phép lịch sự cho người mới đến. Chuyện chợ ở đâu, tạp hoá thôn, xe hàng rong và chuyến mua sắm ở Gia Nghĩa có bài riêng trong chuyên mục đời sống thôn bản. Bài không nêu tên sạp, giá hàng.

Một buổi chợ sáng: ai có mặt, ai bán gì

Theo nếp chung của chợ quê Tây Nguyên, chợ họp từ rất sớm, khi trời còn sương, để người dân mua xong kịp ra vườn; gần trưa nắng lên thì thưa dần. Phần lõi của chợ là các sạp cố định, phần lớn do người Kinh buôn bán: thịt, cá, rau củ chở từ nơi khác về, tạp hoá, quần áo. Quanh chợ là quán ăn sáng, quán cà phê, tiệm vật tư.

Phần rìa chợ mới là chỗ thú vị nhất về văn hoá: những người bán ngồi trên tấm bạt, bên chiếc gùi, cái rổ, mang ra những thứ nhà mình có. Đây thường là phụ nữ đồng bào, bán một ít rồi đi chợ mua lại thứ cần dùng. Một buổi chợ của họ vừa là buổi bán hàng, vừa là buổi gặp người quen ở thôn khác.

Một buổi chợ vì thế có hai nhịp. Nhịp của sạp cố định đều đặn, ngày nào cũng giống ngày nào; nhịp của hàng ven chợ thì thất thường, phụ thuộc vào mùa, vào việc nhà, vào trời mưa hay nắng. Người quen chợ nhìn hàng ven chợ là biết rừng đang vào mùa gì, vườn đang có trái gì.

Sau khi hai xã cũ nhập làm một, người vùng Đắk Som cũ và vùng Đắk R'Măng cũ vẫn đi chợ quen của mình, vì chợ gắn với đường đi lối lại chứ không gắn với tên xã. Một người ở thôn xa có khi đi chợ của xã láng giềng gần hơn chợ trung tâm xã mình, chuyện rất bình thường ở vùng đồi.

Hàng đồng bào ven chợ: rau rừng, măng, trái vườn

Ở Tà Đùng, hàng của phụ nữ M'Nông, Mạ thường là rau rừng, đọt mây, lá bép, măng, cà đắng, ớt, chuối, đu đủ; phụ nữ Mông mang ra rau cải, bí, ngô non, gà nhà; có khi có mật ong, cá suối, nấm do người trong thôn hái. Mỗi người bán một ít, hàng tươi, đúng mùa.

Những thứ ấy kể lại cả một nếp sống: rau rừng và măng là tri thức của người biết rừng, rau cải và ngô non là vườn rau quê Bắc trồng lại trên đất đỏ, gà nhà là chăn nuôi nhỏ quanh nhà. Người mua quen thường ra sớm để chọn được rau, măng ngon nhất trước khi hết.

Với người bán, mỗi buổi chợ là một khoản tiền mặt nhỏ nhưng đều đặn, giúp lo chi tiêu hằng ngày trong lúc chờ mùa thu hoạch. Với người mua, đây là nơi có những thứ không chợ thành phố nào có. Rau rừng bán ở chợ phần nhiều hái ở rẫy, ven rừng sản xuất; việc hái trong rừng đặc dụng bị hạn chế theo quy định.

Mẹt hàng đồng bào theo mùa

Hàng bày ven chợ đổi theo mùa rõ hơn mọi sạp khác. Bảng dưới gom những thay đổi dễ thấy theo lệ chung của vùng; thời điểm cụ thể xê dịch từng năm.

MùaHàng của đồng bào hay gặpGhi chú
Đầu mùa mưa (khoảng tháng 5–7)măng, rau rừng non, đọt mây, nấmnấm dại có loại rất độc, chỉ mua của người quen biết rõ
Giữa mùa mưa (khoảng tháng 7–10)bơ, chuối, mít, rau cải, bítrái vườn nhiều, rau rừng thưa dần
Mùa hái cà phê (khoảng tháng 10–1)ít hàng hơn vì cả nhà bận vườnchợ đông người lạ, hàng đồng bào thưa
Giáp Tếtgà nhà, gạo nếp, lá gói bánh, rượu tự nấurượu tự nấu không rõ nguồn nên cân nhắc
Mùa khô sau Tếthàng khô, măng khô, cá phơi, ớtrau tươi ít, giá rau thường lên

Bảng là nét chung. Muốn biết mùa nào có gì, hỏi chính người bán quen là nhanh nhất, và họ thường chỉ luôn cách nấu.

Mua chịu, ghi sổ, trả sau mùa: lệ buôn bán dựa trên quen biết

Một nét đặc trưng của chợ quê ở vùng cà phê là mua chịu. Người bán ở các sạp cố định nhiều người đã bám chợ hàng chục năm, biết mặt từng khách, biết nhà nào ở thôn nào, vườn nhà ai rộng hay hẹp. Họ ghi sổ cho khách quen lấy hàng trước, trả sau khi bán cà phê. Đại lý vật tư quanh chợ cũng bán chịu phân bón đầu mùa theo cách tương tự.

Lệ ấy dựa hoàn toàn vào lòng tin. Nó giúp hộ nông dân xoay xở trong những tháng chưa có tiền, nhưng cũng dễ thành nợ dây dưa khi mất mùa, rớt giá. Ở chiều ngược lại, người bán chịu cũng gánh rủi ro, nên quan hệ giữa sạp và khách thường bền qua nhiều năm, có khi qua hai thế hệ.

Ngày nay chuyển khoản qua điện thoại đã phổ biến ở chợ, nhất là với người trẻ, nhưng sổ ghi nợ vẫn nằm trên quầy nhiều sạp. Với người mới đến, hiểu lệ này giúp hiểu vì sao người ta mua ở sạp quen dù sạp bên cạnh có thể rẻ hơn.

Chợ là nơi các cộng đồng gặp nhau và nói với nhau

Chợ là không gian mà mọi cộng đồng ở Tà Đùng có mặt cùng lúc: người Kinh bán sạp, đồng bào bán rau, người Mông mua vải, thợ hái cà phê từ nơi khác đến mua đồ ăn. Tiếng phổ thông là tiếng chung, nhưng ở chợ có thể nghe tiếng M'Nông, tiếng Mông, đủ giọng Kinh các miền, có khi trong cùng một câu chuyện mặc cả.

Người buôn bán lâu năm thường biết vài câu tiếng đồng bào để chào, để hỏi giá; người đồng bào bán hàng lâu cũng thạo cách mặc cả của người Kinh. Những mối quen ở chợ nhiều khi thành bạn hàng lâu năm, giúp nhau lúc khó, và là một trong những sợi dây nối các cộng đồng ngoài họp thôn, ngoài trường học.

Chợ cũng là nơi tin tức lan nhanh nhất: giá cà phê hôm nay, nhà ai có đám, đường nào sạt, thôn nào mất điện. Người mới đến muốn hiểu xã, ngồi một buổi ở quán cà phê cạnh chợ có khi được nhiều hơn đọc mười bài báo.

Phép mua bán ở chợ quê cho người mới đến

Mua hàng của đồng bào ngồi ven chợ, hỏi giá rồi mua, mặc cả nhẹ nhàng hoặc không mặc cả. Số tiền chênh không đáng là bao với người mua nhưng có ý nghĩa với người bán. Nếu không mua, cảm ơn rồi đi, đừng bới hàng.

Không chụp ảnh người bán khi chưa hỏi, nhất là phụ nữ, người già đồng bào. Một gánh rau rừng, một chiếc gùi trông lạ mắt với khách nhưng là sinh kế của người bán. Hỏi trước, mua giúp vài thứ, rồi mới xin chụp là cách được đón nhận vui vẻ.

Với rau rừng, măng, nấm: hỏi người bán cách nấu, có cần luộc bỏ nước không; với nấm, nếu không chắc là loại ăn được thì không mua. Mang theo túi vải, giỏ riêng khi đi chợ cũng giúp bớt túi ni lông, thứ rác mà các thôn ven hồ đang phải vất vả thu gom.

Chợ mùa hái cà phê: khi xã đón thêm người lạ

Từ khoảng tháng 10 tới tháng 1 năm sau, mùa hái cà phê đưa về Tà Đùng thêm nhiều thợ hái từ nơi khác: người các xã lân cận, người từ các tỉnh miền Trung, có cả những nhóm đồng bào từ vùng khác đến làm thuê. Họ ở nhờ trong lán vườn, nhà chủ, và trở thành khách quen của chợ trong mấy tháng ấy.

Chợ mùa này bán nhiều đồ ăn sẵn, mì gói, gạo bao nhỏ, đồ dùng như áo mưa, găng tay, bao, dây buộc. Các quán ăn sáng, quán cơm bình dân đông hơn, mở sớm hơn. Ngược lại, hàng của đồng bào bản địa thưa đi vì chính họ cũng đang bận hái.

Đây cũng là mùa tiền mặt về nhiều nhất trong năm, nên các tiệm quần áo, điện thoại, xe máy bán chạy. Nhìn chợ mùa hái là thấy rõ nhất một xã sống bằng cà phê, và cũng thấy rõ nhất cảnh nhiều giọng nói, nhiều quê gốc cùng chen nhau trước một sạp hàng.

Đồ đan, khăn dệt và nông cụ: nghề tay xuất hiện ở chợ

Ngoài rau và trái, chợ quê đôi khi còn là nơi nghề tay của các cộng đồng lộ diện: vài chiếc gùi, giỏ đan bằng mây tre, chổi đót, khăn hay túi dệt, con dao, cán cuốc do người trong thôn làm. Hàng như vậy không có thường xuyên, xuất hiện nhiều hơn vào những tháng nông nhàn hoặc dịp giáp Tết, khi người làm có thời gian và cần tiền mặt.

Đồ đan tay, dệt tay mất nhiều công, nên nếu gặp, người mua nên hỏi người bán ai làm, làm bao lâu, và trả giá vừa phải. Ở chợ cũng có nhiều hàng in hoa văn công nghiệp, gùi nhựa, giỏ nhựa giá rẻ; phân biệt hàng tay với hàng máy đơn giản nhất là hỏi thẳng người bán.

Sự hiện diện ngày càng thưa của đồ thủ công ở chợ là một dấu hiệu cho thấy nghề tay đang thu hẹp. Ngược lại, mỗi lần một chiếc gùi đan tay được mua với giá xứng đáng là một lần người làm nghề có thêm lý do để tiếp tục.

Chợ quê đang đổi: những gì thưa đi, những gì giữ được

Như mọi chợ nông thôn, chợ ở Tà Đùng đổi nhanh. Hàng công nghiệp, đồ đóng gói chiếm chỗ ngày càng nhiều; túi ni lông thay lá gói và giỏ đan; người trẻ đặt hàng trên mạng thay vì ra chợ. Rau rừng, cá suối thưa dần khi rừng thu hẹp và quy định bảo vệ chặt hơn.

Cái giữ được lâu nhất là phần con người: lệ mua chịu với sạp quen, những người phụ nữ đồng bào ngồi đúng chỗ cũ mỗi sáng, cuộc trò chuyện giá cà phê ở quán cạnh chợ. Chừng nào chợ còn là nơi người các thôn gặp nhau, chợ còn giữ vai trò của một không gian văn hoá chung.

Với người viết về Tà Đùng, chợ là nơi dễ ghi lại đời sống thật nhất, miễn là nhớ phép lịch sự: hỏi trước khi chụp, mua trước khi hỏi chuyện dài, và không biến người bán thành cảnh để quay.

Câu hỏi thường gặp

Chợ ở Tà Đùng họp lúc mấy giờ?

Theo nếp chung của chợ quê Tây Nguyên, chợ họp từ sáng sớm và đông nhất vào giữa buổi sáng, thưa dần khi gần trưa. Giờ cụ thể từng chợ, từng điểm chợ thôn khác nhau và có thể thay đổi, nên hỏi người địa phương trước khi đi.

Ở chợ Tà Đùng có bán rau rừng không?

Có, chủ yếu vào mùa mưa. Phụ nữ đồng bào M'Nông, Mạ thường mang rau rừng, đọt mây, lá bép, măng, cà đắng ra bán ven chợ. Lượng hàng ít và theo mùa, nên muốn mua phải đi sớm.

Người bán ở chợ Tà Đùng nói tiếng gì?

Tiếng phổ thông là tiếng chung ở chợ. Giữa những người cùng dân tộc, có thể nghe tiếng M'Nông, tiếng Mông và đủ giọng Kinh các miền. Nhiều người buôn bán lâu năm biết vài câu tiếng đồng bào để chào hỏi, hỏi giá.

Vì sao người ta mua chịu ở chợ quê?

Ở vùng trồng cà phê, tiền về theo mùa thu hoạch. Sạp quen ghi sổ cho khách lấy hàng trước, trả sau khi bán cà phê, dựa trên quen biết lâu năm. Lệ này giúp hộ nông dân xoay xở nhưng dễ thành nợ dây dưa khi mất mùa, rớt giá.

Có nên mặc cả khi mua hàng của đồng bào ở chợ không?

Có thể hỏi giá và mặc cả nhẹ, nhưng không nên trả quá thấp. Hàng đồng bào bán thường ít, tươi, là khoản thu nhập nhỏ của gia đình. Mua với giá hợp lý và cảm ơn là cách cư xử được quý.

Chợ Tà Đùng đông nhất vào lúc nào trong năm?

Đông nhất là những tuần giáp Tết Nguyên đán, khi người dân đã bán cà phê, người đi làm xa về, mọi nhà sắm Tết. Mùa hái cà phê chợ cũng đông vì có thêm thợ hái từ nơi khác đến.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0918 83 22 83