Ở xã Tà Đùng (Lâm Đồng), mỗi cộng đồng giữ một phong tục cưới riêng: ở nhiều nhóm M'Nông theo mẫu hệ, nhà gái là bên chủ động đi hỏi chồng và chàng rể về ở nhà vợ; người Mông cưới qua ông mối, có lễ vật và nghi thức đón dâu theo họ; người Kinh giữ dạm ngõ, ăn hỏi, lễ cưới theo nếp quê gốc. Ngày càng nhiều đám cưới pha giữa các dân tộc, với mâm cỗ bên cạnh ché rượu cần.
Dù phong tục khác nhau, mọi cuộc hôn nhân đều phải theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi, tự nguyện, và đăng ký kết hôn tại ủy ban xã. Bài này tả phong tục như di sản văn hoá, đồng thời nói thẳng những chuyện đang được cộng đồng và chính quyền cùng thay đổi như tảo hôn, thách cưới nặng.
Người M'Nông: khi nhà gái đi hỏi chồng
Ở nhiều nhóm M'Nông theo chế độ mẫu hệ, người con gái và gia đình nhà gái là bên chủ động trong hôn nhân. Khi cô gái ưng một chàng trai, gia đình nhờ người mai mối sang nhà trai đặt vấn đề. Nếu hai bên đồng ý, các lễ được tiến hành qua nhiều bước: lễ hỏi, lễ cưới, mỗi lễ có những lễ vật và nghi thức riêng.
Lễ vật trong hôn nhân truyền thống M'Nông thường gồm ché, chiêng, gà, heo, rượu, vải, vòng, tuỳ thoả thuận giữa hai họ và tuỳ điều kiện của gia đình. Sau cưới, theo nếp mẫu hệ, chàng rể về ở nhà vợ, con cái mang họ mẹ. Trong một số trường hợp và một số nhóm, cách ở có thể khác, do hai gia đình thoả thuận.
Ngày nay ở vùng Tà Đùng, các bước cưới đã gọn hơn nhiều, lễ vật quy ra tiền hoặc giảm bớt, nhiều cặp đôi tự quen nhau qua trường học, đi làm. Nhưng vai trò của gia đình nhà gái, của họ mẹ trong hôn nhân vẫn là nét dễ nhận ra.
Người Mạ: hôn nhân trong họ hàng và bon làng
Người Mạ có phong tục hôn nhân riêng, được các nhà nghiên cứu ở Lâm Đồng ghi nhận qua nhiều công trình. Tài liệu cho thấy có những điểm khác với người M'Nông về việc bên nào chủ động, cưới xong ở nhà ai, và lễ vật gồm những gì; mức độ khác nhau giữa các nhóm Mạ.
Ở vùng Tà Đùng, người Mạ không đông và nhiều gia đình kết hôn với người M'Nông, người Kinh, nên phong tục cưới thường là sự thoả thuận giữa hai gia đình, kết hợp nếp của cả hai bên. Già làng và người lớn tuổi trong hai họ là người quyết định nghi thức nào được giữ.
Với người ngoài muốn hiểu cụ thể, cách đúng là hỏi chính gia đình người Mạ đang tổ chức, thay vì áp mô tả chung từ sách vở. Mỗi đám cưới là một cuộc thương lượng giữa truyền thống và hoàn cảnh hôm nay.
Người Mông: ông mối, lễ vật và tục kéo vợ hiểu cho đúng
Đám cưới người Mông truyền thống đi qua ông mối, người thay mặt nhà trai sang nhà gái hỏi cưới, thương lượng lễ vật, ngày cưới. Lễ vật thường gồm bạc trắng, lợn, gà, rượu, tuỳ thoả thuận giữa hai họ. Ngày đón dâu, nhà trai cử đoàn sang nhà gái, có ông mối dẫn đầu, có những bài hát, lời chúc và nghi thức trao nhận theo phong tục.
Tục kéo vợ là phong tục được nhắc nhiều và hay bị hiểu sai. Trong nếp cũ, khi đôi trai gái đã ưng nhau, chàng trai cùng bạn bè “kéo” cô gái về nhà mình như một nghi thức, rồi báo cho nhà gái để bàn chuyện cưới. Khi tục này bị lạm dụng thành ép buộc người không đồng ý thì đó là vi phạm pháp luật. Nhiều địa phương đã đưa nội dung này vào hương ước, vận động bỏ phần ép buộc.
Ở các thôn người Mông vùng Tà Đùng, đám cưới vẫn giữ ông mối, giữ bài hát cưới, lễ vật theo thoả thuận, nhưng mức thách cưới đã được nhiều họ bàn bạc để giảm, tránh nợ nần cho đôi trẻ.
Người Kinh: dạm ngõ, ăn hỏi, lễ cưới và rạp cưới giữa vườn
Người Kinh ở Tà Đùng giữ các bước cưới theo quê gốc: dạm ngõ để hai gia đình gặp nhau, ăn hỏi với mâm quả, lễ cưới với lễ rước dâu. Người gốc Bắc có tráp ăn hỏi số lẻ, cau trầu, bánh cốm; người gốc Trung, Nam có mâm quả, bánh phu thê. Mỗi nhà giản lược hay giữ đủ tuỳ điều kiện.
Tiệc cưới ở nông thôn Tà Đùng thường làm tại nhà: dựng rạp bạt trên sân phơi, kê bàn, thuê đầu bếp nấu cỗ, thuê dàn âm thanh. Khách là họ hàng, hàng xóm, bạn bè đủ các dân tộc trong thôn. Tiệc thường kéo dài cả ngày, nhiều nơi có tiệc chiều hôm trước cho người trong xóm.
Mùa cưới thường dồn vào sau Tết và trước khi mưa nhiều, khi đã bán xong cà phê, công việc vườn chưa bận. Những tháng mùa hái ít đám cưới, vì ai cũng ở ngoài vườn.
Phong tục cưới các cộng đồng nhìn nhanh
Bảng dưới gom những nét chung đã được ghi nhận. Mỗi gia đình hôm nay có thể giữ nhiều hay ít, và đám cưới giữa hai dân tộc thường kết hợp cả hai bên.
| Cộng đồng | Bên chủ động | Người trung gian | Sau cưới ở đâu | Nét riêng |
|---|---|---|---|---|
| M'Nông (nhiều nhóm mẫu hệ) | nhà gái | người mai mối | thường nhà vợ | lễ vật ché, chiêng, rượu; con theo họ mẹ |
| Mạ | tuỳ nhóm, tuỳ gia đình | người mai mối, người già hai họ | theo thoả thuận | nên hỏi trực tiếp cộng đồng |
| Mông | nhà trai | ông mối | nhà chồng | bài hát cưới, lễ vật theo thoả thuận của hai họ |
| Kinh | nhà trai | người đại diện hai họ | thường nhà chồng | dạm ngõ, ăn hỏi, rước dâu, tiệc tại nhà |
Bảng không thay cho việc hỏi chính gia đình đang tổ chức. Khi được mời dự đám cưới khác dân tộc, hỏi người quen về phép tắc là cách tốt nhất để không vụng.
Tuổi kết hôn, tảo hôn và đăng ký kết hôn
Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi mới được kết hôn, việc kết hôn phải do hai bên tự nguyện quyết định và phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thường là ủy ban nhân dân xã nơi cư trú của một trong hai bên. Không đăng ký thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Tảo hôn, tức kết hôn khi một hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi, và hôn nhân cận huyết thống là những vấn đề được nêu trong nhiều báo cáo về vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào giai đoạn 2021–2030 có dự án riêng nhằm giảm hai tình trạng này, qua tuyên truyền, tư vấn, câu lạc bộ ở thôn, trường học.
Ở Tà Đùng, như nhiều xã vùng đồng bào, việc tổ chức cưới theo phong tục rồi mới đăng ký, hoặc không đăng ký, vẫn còn. Hệ quả rơi vào con cái: làm giấy khai sinh, hưởng chính sách, chia tài sản sau này đều vướng. Gia đình nên đăng ký kết hôn trước hoặc ngay sau lễ cưới.
Đám cưới pha: khi hai dân tộc thành một nhà
Hôn nhân giữa các dân tộc ở Tà Đùng ngày càng nhiều: người Kinh lấy người M'Nông, người Tày lấy người Kinh, người M'Nông lấy người Mạ. Những đám cưới này thường là cuộc thương lượng dễ thương giữa hai bộ phong tục: bên nào hỏi, lễ vật gì, con theo họ ai, cưới xong ở đâu.
Trong thực tế, nhiều đám cưới pha có cả hai phần: lễ theo phong tục nhà gái ở nhà gái, lễ theo phong tục nhà trai ở nhà trai, tiệc chung có mâm cỗ người Kinh bên cạnh ché rượu cần, có tiếng chiêng xen tiếng nhạc đám cưới. Già làng, trưởng họ hai bên thường có mặt để chứng kiến.
Những đám cưới như vậy là nơi văn hoá các cộng đồng gặp nhau gần nhất. Con cái của các gia đình này lớn lên với hai tiếng nói, hai lịch lễ, và thường là cầu nối tự nhiên giữa các cộng đồng trong xã.
Dự đám cưới ở Tà Đùng: phép lịch sự cho khách
Khách được mời dự đám cưới nên đến đúng buổi được mời, ăn mặc gọn gàng, mang quà mừng theo cách quen của địa phương, thường là phong bì. Ở đám cưới đồng bào, khách có thể được mời uống rượu cần, rượu ngô theo lượt; nhận lời theo khả năng và từ chối khéo khi phải lái xe.
Khi đám cưới có nghi lễ theo phong tục như cúng, trao lễ vật, hát cưới, khách nên đứng ở chỗ được chỉ, không chen lên chụp ảnh, không chạm vào lễ vật. Muốn quay phim, chụp ảnh các nghi thức, hãy hỏi chủ nhà.
Đường về sau đám cưới ở nông thôn thường tối, đường đèo, đường đất. Uống rượu thì không lái xe, nhờ người khác chở hoặc ở lại. Đây là lời nhắc thật, vì tai nạn sau tiệc cưới không hiếm ở các vùng nông thôn.
Một lưu ý nữa về giờ giấc: tiệc cưới ở nông thôn Tà Đùng thường bắt đầu sớm, có nơi từ trưa, và khách đến theo từng đợt chứ không đúng một giờ như ở thành phố. Hỏi người mời nên đến lúc nào là cách để không đến khi mâm đã dọn.
Thách cưới nặng và chuyện giảm lễ vật
Ở nhiều cộng đồng, lễ vật cưới từng là gánh nặng: nhà trai người Mông phải lo bạc trắng, lợn, rượu; nhà gái M'Nông phải lo ché, chiêng, heo, trâu tuỳ thoả thuận; người Kinh lo tiệc lớn cho nở mày nở mặt. Không ít đôi trẻ bắt đầu cuộc sống bằng một khoản nợ.
Nhiều địa phương vùng đồng bào đã đưa việc giảm thách cưới, tổ chức đám cưới tiết kiệm vào hương ước, quy ước của thôn. Các họ lớn người Mông cũng bàn với nhau mức lễ vật hợp lý. Ở người Kinh, xu hướng thu gọn tiệc, gộp các lễ cũng ngày càng rõ.
Giảm lễ vật không làm mất ý nghĩa của phong tục: lễ vật vốn là cách hai gia đình thể hiện sự trân trọng, ràng buộc trách nhiệm với nhau, chứ không phải giá của cô dâu, chú rể. Giữ ý nghĩa, bỏ phần nặng nề là hướng mà nhiều cộng đồng đã chọn.
Sau đám cưới: ở rể, ra riêng và những thay đổi của gia đình trẻ
Phong tục về nơi ở sau cưới là chỗ các cộng đồng khác nhau rõ nhất. Ở các gia đình M'Nông theo mẫu hệ, chàng rể về ở nhà vợ, làm rẫy cùng gia đình vợ; ở người Mông và người Kinh, cô dâu thường về nhà chồng. Theo thời gian, nhiều cặp vợ chồng trẻ ở Tà Đùng chọn ra ở riêng khi có điều kiện, dựng nhà trên mảnh đất được cha mẹ chia hoặc mua thêm.
Kinh tế vườn cũng ảnh hưởng tới lựa chọn này: đôi vợ chồng nào được chia vườn cà phê thì thường ở gần vườn, đôi nào chưa có đất thì đi làm thuê, đi làm xa một thời gian rồi về. Không ít cặp vợ chồng trẻ cùng đi làm khu công nghiệp, gửi con cho ông bà ở quê.
Những thay đổi này khiến vai trò của ông bà trong việc nuôi dạy cháu ở Tà Đùng lớn hơn trước, và cũng là lúc tiếng nói, phong tục được truyền lại nhiều nhất, từ ông bà sang cháu.
Câu hỏi thường gặp
Người M'Nông có tục con gái hỏi chồng không?
Ở nhiều nhóm M'Nông theo chế độ mẫu hệ, nhà gái là bên chủ động đi hỏi chồng thông qua người mai mối, và sau cưới chàng rể thường về ở nhà vợ. Mức độ giữ phong tục này khác nhau giữa các nhóm và các gia đình hôm nay.
Tục kéo vợ của người Mông có hợp pháp không?
Kéo vợ trong nếp cũ là một nghi thức khi đôi trai gái đã ưng nhau. Nếu bị lạm dụng thành ép buộc người không đồng ý thì đó là vi phạm pháp luật. Luật Hôn nhân và gia đình yêu cầu việc kết hôn phải do hai bên tự nguyện quyết định.
Tuổi kết hôn theo luật là bao nhiêu?
Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi mới được kết hôn. Kết hôn khi chưa đủ tuổi là tảo hôn, bị pháp luật cấm và có thể bị xử lý.
Đăng ký kết hôn ở Tà Đùng làm ở đâu?
Đăng ký tại ủy ban nhân dân xã nơi cư trú của một trong hai bên, nay là ủy ban xã Tà Đùng với người ở vùng Đắk Som, Đắk R'Măng cũ. Giấy tờ cần mang và thủ tục cụ thể nên hỏi bộ phận một cửa của xã vì quy định có thể thay đổi.
Mùa cưới ở Tà Đùng là khi nào?
Đám cưới thường dồn vào sau Tết Nguyên đán và trước khi mưa nhiều, khi đã bán xong cà phê và công việc vườn chưa bận. Những tháng mùa hái cà phê cuối năm ít đám cưới hơn.
Đi đám cưới đồng bào nên mừng gì?
Phong bì là cách mừng phổ biến ở mọi cộng đồng hôm nay. Nếu thân thiết, có thể hỏi người quen xem gia đình có cần góp gì cho tiệc không. Quan trọng hơn món quà là đến đúng buổi, cư xử theo phép của chủ nhà.