Ở xã Tà Đùng (Lâm Đồng), mỗi cộng đồng mang theo một nếp nhà riêng: nhà trệt dài mái thấp của nhiều nhóm M'Nông, nhà sàn dài của người Mạ, nhà trệt ba gian vách gỗ của người Mông, nhà có gian thờ ở giữa của người Kinh. Kiểu nhà gốc nay còn rất ít vì phần lớn gia đình đã ở nhà xây, nhưng bố cục bên trong, chỗ đặt bếp, gian thờ và các nghi lễ dựng nhà, mừng nhà mới vẫn được giữ.
Bài này tả nhà ở như một phần văn hoá: kiến trúc gốc của từng cộng đồng, không gian nào được coi trọng, nghi lễ quanh việc dựng nhà, và phép lịch sự khi vào nhà. Chuyện các kiểu nhà đang có ở thôn bản, nhà xây theo dự án, nhà mới ven hồ có bài riêng trong chuyên mục đời sống thôn bản; chuyện xây dựng, giấy phép, mua bán nhà đất thuộc các trang chuyên về đất.
Nhà truyền thống của người M'Nông: dài, thấp và bếp lửa ở giữa
Theo các tài liệu dân tộc học, nhà truyền thống của nhiều nhóm M'Nông là nhà trệt, nền đất, mái tranh lợp thấp gần chạm đất, có khi dài hàng chục mét để nhiều thế hệ cùng ở. Cửa ra vào thường mở ở đầu hồi hoặc hai bên, bên trong là chuỗi các gian bếp của từng gia đình nhỏ trong cùng dòng họ mẹ. Một số nhóm M'Nông ở gần người Ê Đê làm nhà sàn.
Bếp lửa là trung tâm của ngôi nhà: nơi nấu ăn, sưởi, giữ hạt giống, gác thịt, là chỗ ngồi kể chuyện. Trên vách treo chiêng, gùi; ché được đặt dọc theo vách. Không gian chung dành cho khách, cho nghi lễ thường ở gần cửa chính.
Ở vùng Tà Đùng hôm nay, nhà dài truyền thống gần như không còn được ở như xưa. Các gia đình nhỏ tách ra ở riêng, nhà xây theo dự án hoặc tự xây thay nhà tranh. Cái còn lại là cách dùng không gian: nhiều nhà vẫn dựng thêm một gian bếp gỗ phía sau, nơi đặt bếp lửa, gác bếp và là chỗ cả nhà thật sự ngồi với nhau.
Nhà sàn của người Mạ
Người Mạ truyền thống ở nhà sàn dài, sàn cao, cầu thang lên xuống, nhiều gia đình trong cùng một dòng họ ở chung. Gầm sàn dùng chứa củi, nông cụ, nuôi gia súc nhỏ. Vật liệu là gỗ, tre, nứa, lợp tranh hoặc lá.
Kiểu nhà sàn của người Mạ đã được ghi nhận nhiều ở vùng Lâm Đồng cũ, phía Bảo Lộc, Di Linh, Cát Tiên. Ở phía vùng Tà Đùng, nơi người Mạ không đông, nhà sàn truyền thống hiếm thấy; phần lớn gia đình người Mạ ở nhà trệt hoặc nhà xây như hàng xóm.
Ở vùng giáp ranh như Tà Đùng, nơi người M'Nông và người Mạ sống gần nhau, cách làm nhà của hai cộng đồng từng ảnh hưởng lẫn nhau. Muốn biết một ngôi nhà cũ còn sót lại theo kiểu nào, người đáng hỏi nhất là chính người đã dựng hoặc con cháu họ. Với người làm văn hoá, nhà sàn Mạ là một di sản kiến trúc dân gian đáng được ghi chép, chụp ảnh, đo vẽ trước khi những ngôi nhà cuối cùng bị thay thế.
Nhà người Mông: ba gian, vách gỗ, cửa thấp
Nhà truyền thống của người Mông ở vùng núi phía Bắc là nhà trệt ba gian, vách bằng gỗ ván hoặc trình tường đất, mái lợp ngói âm dương, tranh hoặc ván gỗ, cửa chính thấp và ít cửa sổ để giữ ấm. Gian giữa đặt bàn thờ, hai gian bên là bếp và chỗ ngủ. Trên gác là kho ngô, kho lúa.
Khi vào Tây Nguyên, đồng bào Mông dựng nhà theo kiểu quê nhưng thích nghi với khí hậu ấm hơn và vật liệu sẵn có. Ở các thôn người Mông vùng Tà Đùng, có thể thấy nhà vách gỗ, mái tôn, cửa thấp, gác ngô ở trên, bếp lửa ở một bên. Nhà xây gạch ngày càng nhiều, nhưng nhiều nhà vẫn giữ bố cục ba gian, gian giữa dành cho thờ cúng.
Trong nhà người Mông, cột cái, bàn thờ, bếp là những chỗ gắn với nghi lễ, người ngoài không nên tự ý chạm vào, ngồi lên hay để đồ. Khi vào nhà, đợi chủ nhà mời ngồi ở đâu thì ngồi ở đó.
Chọn đất, dựng nhà và mừng nhà mới: nghi lễ của từng cộng đồng
Với mọi cộng đồng ở Tà Đùng, dựng nhà là việc lớn của đời người, đi kèm những nghi lễ riêng. Theo tài liệu dân tộc học về quê cũ phía Bắc, người Mông có tục thử đất trước khi dựng nhà: đặt mấy hạt gạo xuống một hố nhỏ, úp bát lên, hôm sau mở ra xem hạt gạo còn nguyên vị trí hay không để quyết định có dựng ở đó. Khi nhà xong, gia đình làm lễ cúng và mời anh em trong họ đến mừng.
Ở bon M'Nông, Mạ, lễ mừng nhà mới thường có con vật hiến tế, ché rượu cần, tiếng chiêng, mời già làng và họ hàng tới chung vui; việc dựng nhà xưa kia là việc cả bon cùng góp công. Người Kinh giữ các lễ động thổ, cất nóc, vào nhà mới theo nếp quê, chọn ngày theo lệ của gia đình.
Hôm nay, nhà xây bằng gạch, thợ thuê theo công, nhưng phần nghi lễ ít bị bỏ hơn phần kiến trúc. Một gia đình người Mông dọn vào nhà xây vẫn cúng như khi vào nhà gỗ; một gia đình M'Nông vào nhà theo dự án vẫn mở ché rượu cần mời bon. Nghi lễ là chỗ nếp nhà sống lâu nhất.
Nhà người Kinh: gian thờ ở giữa và nếp quê theo lên
Người Kinh lên Tà Đùng từ nhiều tỉnh, mỗi nhà mang theo nếp nhà quê mình. Dù là nhà ván những năm đầu hay nhà xây kiên cố sau này, gian giữa gần như luôn dành cho bàn thờ gia tiên, bộ bàn ghế tiếp khách đặt phía trước, buồng ngủ hai bên hoặc phía sau. Nhà gốc Bắc hay giữ hoành phi, câu đối, bàn thờ cao; nhà gốc miền Trung, miền Nam thường bày thêm bàn thờ ông Địa, thần Tài ở góc nhà theo thói quen buôn bán.
Khác quê cũ là phần quanh nhà. Ở vùng cà phê, sân phơi xi măng rộng, kho nông sản gần cổng, bể nước, chuồng gà sau vườn chi phối cách bố trí, nên nhiều ngôi nhà nhìn từ ngoài giống nhau dù chủ nhà đến từ những miền rất xa nhau. Bên trong, nếp quê mới là thứ phân biệt.
Với khách, phép lịch sự ở nhà người Kinh không khác nhiều nơi khác: chào người lớn tuổi trước, không ngồi quay lưng vào bàn thờ, ngày giỗ, ngày Tết thì hỏi chủ nhà trước khi thắp hương.
Không gian được coi trọng trong nhà các cộng đồng
Mỗi cộng đồng có những chỗ trong nhà gắn với nghi lễ, nơi người ngoài cần biết để không vô ý. Bảng dưới gom những nét đã được ghi nhận rộng rãi; từng gia đình có thể khác.
| Cộng đồng | Chỗ được coi trọng | Người ngoài nên lưu ý |
|---|---|---|
| M'Nông, Mạ | bếp lửa, nơi đặt ché và chiêng, khu dành cho nghi lễ gần cửa chính | không bước qua bếp lửa, không chạm ché, chiêng khi chưa được mời |
| Mông | gian giữa có bàn thờ, cột cái, bếp | không ngồi lên, dựa vào cột cái, không để đồ lên chỗ thờ |
| Dao, Tày, Nùng | bàn thờ tổ tiên, gian giữa | chờ chủ mời ngồi, tránh ngồi quay lưng vào bàn thờ |
| Kinh | gian thờ gia tiên, thường ở chính giữa nhà | không ngồi quay lưng vào bàn thờ, hỏi trước khi thắp hương thay chủ |
Khi thấy dấu hiệu kiêng như cành lá cắm trước cửa, người lạ không nên vào nhà. Hỏi người trong thôn là cách nhanh nhất để biết gia đình đang có việc gì.
Nhà cộng đồng của bon: nơi kiến trúc gốc còn được giữ
Khi nhà ở gia đình đã chuyển gần hết sang nhà xây, nơi kiến trúc bản địa còn có dịp sống tiếp là nhà sinh hoạt cộng đồng của bon. Ở nhiều địa phương Tây Nguyên, nhà cộng đồng được dựng lại theo dáng nhà truyền thống của cộng đồng, mái dốc, vật liệu gỗ, tre, dùng để làm lễ, giữ bộ chiêng chung, tiếp khách của bon.
Ở vùng Tà Đùng, bon nào có nhà cộng đồng theo kiểu cũ, xây bằng vốn nào, dùng vào dịp nào, cần hỏi chính bon ấy hoặc ủy ban xã; bài không nêu tên bon cụ thể. Điểm chung ở nhiều nơi là những ngôi nhà như vậy có giá trị lớn nhất khi chính người trong bon được bàn về kiểu dáng, cách dựng và cách dùng, thay vì nhận một mẫu dựng sẵn.
Với người ngoài, nhà cộng đồng không phải nơi tham quan tự do. Muốn vào, hãy hỏi trưởng bon hoặc già làng, và tôn trọng nếu đúng lúc bon đang làm lễ.
Không gian bên trong: bếp, bàn thờ và chỗ tiếp khách
Dù nhà xây hay nhà gỗ, cách sắp xếp bên trong vẫn mang dấu ấn văn hoá của từng cộng đồng. Nhà người Kinh có gian giữa đặt bàn thờ gia tiên, bộ bàn ghế tiếp khách phía trước. Nhà người Mông giữ gian giữa cho thờ cúng, bếp ở một bên. Nhà đồng bào M'Nông, Mạ giữ bếp lửa là nơi quan trọng nhất, ché và chiêng đặt ở những chỗ trang trọng.
Bếp là nơi thể hiện rõ nhất sự khác nhau. Người Kinh nấu bếp gas, bếp củi phụ ở nhà sau. Đồng bào bản địa và đồng bào phía Bắc vẫn giữ bếp củi trong nhà hoặc trong căn bếp riêng, vừa nấu vừa sưởi vừa gác bếp. Mùi khói bếp là mùi quen của các thôn đồng bào vào buổi chiều.
Với khách được mời vào nhà, phép lịch sự chung là chờ chủ mời ngồi, không ngồi quay lưng vào bàn thờ, không bước qua bếp lửa, không chạm vào chiêng, ché khi chưa được phép.
Ghi lại nhà cũ trước khi mất: việc ai cũng có thể làm
Nhà truyền thống ở Tà Đùng đang mất đi nhanh, và rất ít ngôi nhà được ghi chép. Một bức ảnh, một bản vẽ sơ đồ, một đoạn ghi âm người già kể cách dựng nhà là tư liệu có giá trị lâu dài cho chính gia đình và cộng đồng.
Người làm việc này không cần là kiến trúc sư: hỏi chủ nhà nhà dựng năm nào, ai dựng, gỗ lấy ở đâu, các gian dùng làm gì, nghi lễ dựng nhà ngày ấy ra sao, rồi chụp ảnh với sự đồng ý của chủ. Học sinh, sinh viên về quê dịp hè hoàn toàn có thể làm.
Tư liệu nên được lưu lại ở gia đình và, nếu chủ nhà đồng ý, gửi cho thư viện, nhà văn hoá thôn hoặc cơ quan văn hoá của tỉnh. Đó là cách giữ lại một phần lịch sử dân cư mà các bản đồ hành chính không ghi được.
Câu hỏi thường gặp
Ở Tà Đùng còn nhà dài truyền thống của người M'Nông không?
Rất hiếm. Phần lớn gia đình M'Nông đã ở nhà xây hoặc nhà gỗ kiểu mới, các gia đình nhỏ tách ra ở riêng. Một số bon có nhà sinh hoạt cộng đồng làm theo dáng nhà truyền thống để làm lễ và giữ đồ chung.
Nhà người Mông vì sao cửa thấp, ít cửa sổ?
Kiểu nhà này hình thành ở vùng núi cao phía Bắc lạnh, gió mạnh: cửa thấp, ít cửa sổ giúp giữ ấm, giữ khói bếp hun khô ngô lúa trên gác. Khi vào Tây Nguyên, nhiều nhà vẫn giữ bố cục cũ dù khí hậu ấm hơn.
Người M'Nông mừng nhà mới thế nào?
Theo nếp truyền thống, lễ mừng nhà mới của bon thường có con vật hiến tế, ché rượu cần, tiếng chiêng, mời già làng và họ hàng chung vui. Hôm nay nhiều gia đình vào nhà xây theo dự án vẫn giữ phần lễ này, dù làm gọn hơn.
Nhà người Kinh ở Tà Đùng có gì khác nhà ở quê gốc?
Bố cục gian thờ ở giữa, bàn tiếp khách phía trước vẫn giữ theo nếp quê. Khác ở chỗ nhà vườn thường có sân phơi xi măng rộng, kho nông sản, vì kinh tế vườn cà phê, hồ tiêu chi phối cách bố trí quanh nhà.
Khi vào nhà đồng bào cần tránh điều gì?
Chờ chủ nhà mời ngồi, không bước qua bếp lửa, không ngồi quay lưng vào bàn thờ, không chạm vào chiêng, ché, cột cái khi chưa được phép. Thấy dấu hiệu kiêng trước cửa thì không vào. Muốn chụp ảnh trong nhà thì hỏi trước.
Có thể xem nhà truyền thống của đồng bào ở đâu?
Ở các bảo tàng cấp tỉnh có mô hình và hiện vật về nhà truyền thống. Ở thực địa, nhà cộng đồng của một số bon là nơi gần nhất với kiểu nhà xưa; muốn vào xem cần hỏi trưởng bon hoặc già làng.