Ở xã Tà Đùng (Lâm Đồng), ba nghề tay truyền thống còn thấy được là dệt vải trên khung dệt đeo lưng của phụ nữ M'Nông, Mạ; đan gùi, giỏ, mẹt bằng mây tre của đàn ông bon làng; và thêu, vẽ sáp ong trên váy áo của phụ nữ Mông. Cả ba nghề đều đang thu hẹp: người làm phần lớn là người lớn tuổi, nguyên liệu khó tìm, sản phẩm công nghiệp rẻ và tiện hơn.
Bài này mô tả từng nghề như một di sản văn hoá của các cộng đồng ở vùng Đắk Som, Đắk R'Măng cũ: làm bằng gì, ai làm, làm vào lúc nào, dùng để làm gì, và đang đứng trước những thay đổi nào. Bài không giới thiệu nơi bán, không nêu giá sản phẩm.
Khung dệt đeo lưng: nghề của phụ nữ bon làng
Người M'Nông và người Mạ dệt vải bằng khung dệt đeo lưng, loại khung đơn giản gồm các thanh gỗ, tre, một đầu buộc vào cột nhà hoặc gốc cây, đầu kia vòng qua lưng người dệt. Người dệt ngồi duỗi chân trên sàn, dùng sức lưng để căng sợi, tay luồn sợi ngang, dùng thanh gỗ dập chặt. Khổ vải vì thế hẹp, muốn may váy, chăn thì ghép nhiều tấm.
Vải truyền thống có nền tối, xanh chàm hoặc đen, điểm các sọc và hoa văn màu đỏ, trắng, vàng. Hoa văn thường là hình học: thoi, tam giác, răng cưa, đường kẻ, có khi cách điệu hình người, hình thú, hình cây. Mỗi cộng đồng, mỗi nhóm có những mẫu hoa văn quen thuộc, người trong nghề nhìn có thể đoán vải của ai.
Trước kia, sợi được làm từ bông tự trồng, tự kéo, nhuộm bằng lá, vỏ cây, rễ cây. Ngày nay phần lớn người dệt mua sợi công nghiệp nhuộm sẵn, vì trồng bông, kéo sợi mất quá nhiều thời gian. Kỹ thuật dệt thì vẫn giữ.
Dệt vải dùng làm gì trong đời sống bon
Vải dệt tay dùng để may váy, khố, áo, khăn, chăn đắp, và để địu con. Một tấm chăn dệt tay dày, ấm, dùng được nhiều năm. Trong lễ cưới, lễ tang, những tấm vải đẹp được mang ra dùng hoặc làm quà. Phụ nữ biết dệt giỏi từng được coi trọng trong bon, và ở nhiều nơi con gái học dệt từ nhỏ như học một việc phải biết.
Ngày nay, trang phục thường ngày của đồng bào ở Tà Đùng phần lớn là quần áo may sẵn. Váy áo dệt tay chủ yếu được mặc trong dịp lễ, hội diễn, ngày vui của bon. Chăn dệt vẫn còn trong nhiều nhà, nhất là nhà người lớn tuổi.
Một thay đổi đáng chú ý là vải dệt tay bắt đầu được làm để bán: khăn, túi, tấm trang trí. Điều này giúp người dệt có thêm thu nhập nhưng cũng đặt ra câu hỏi giữ hoa văn gốc hay làm theo ý khách.
Đan gùi, giỏ, mẹt: nghề của đàn ông
Đan lát ở bon làng truyền thống là việc của đàn ông. Nguyên liệu là mây, tre, lồ ô, giang lấy từ rừng, chẻ thành nan, vót mỏng, phơi khô, có khi hun khói cho bền và lên màu. Sản phẩm phổ biến nhất là chiếc gùi: gùi lớn đựng lúa, ngô, củi; gùi nhỏ, đan mắt cáo mịn, có hoa văn, dùng đi chơi, đi lễ; gùi có nắp đựng đồ quý.
Ngoài gùi, đàn ông còn đan nong, nia, mẹt phơi, giỏ cá, ống đựng, mũ, các loại bẫy. Một chiếc gùi đẹp có thể mất nhiều ngày làm, từ khâu lấy mây tới khâu đan hoa văn ở thân gùi. Người đan giỏi được cả bon biết tên.
Gùi vẫn còn được dùng ở Tà Đùng: đi rẫy, hái cà phê, đi chợ. Nhưng gùi nhựa, bao tải, xe máy đã thay phần lớn công dụng. Mây rừng ngày càng khó lấy, nhất là khi rừng thuộc diện bảo vệ, nên người đan phải mua nguyên liệu hoặc dùng tre trồng.
Thêu và vẽ sáp ong: tay nghề của phụ nữ Mông
Phụ nữ Mông nổi tiếng với kỹ thuật vẽ sáp ong và thêu. Vẽ sáp ong là dùng bút đồng nhỏ chấm sáp ong nóng chảy, vẽ hoa văn lên vải trắng, rồi nhúng chàm; chỗ có sáp không ăn màu, khi đun cho sáp tan sẽ hiện hoa văn trắng trên nền xanh. Thêu dùng chỉ màu, thêu hoa văn lên cổ áo, tay áo, thân váy, thắt lưng, mũ trẻ em.
Ở quê cũ phía Bắc, phụ nữ Mông làm váy áo cho cả nhà, mỗi bộ váy là công sức nhiều tháng. Con gái học thêu từ nhỏ; váy áo tự làm là một cách người con gái thể hiện mình khi đi chơi Tết, đi chợ.
Ở Tà Đùng, những phụ nữ Mông lớn tuổi vẫn thêu khi rảnh, nhất là mùa mưa nông nhàn. Lớp trẻ thì ít làm, váy áo mua sẵn nhiều hơn. Kỹ thuật vẽ sáp ong đòi hỏi chàm và sáp ong, không phải nhà nào cũng có, nên ngày càng ít người làm ở đất mới.
Ba nghề tay nhìn nhanh
Bảng dưới gom những nét chính của ba nghề. Đây là đặc điểm chung của nghề, không phải mô tả một gia đình hay một người cụ thể ở Tà Đùng.
| Nghề | Ai làm | Nguyên liệu | Sản phẩm | Tình trạng hôm nay |
|---|---|---|---|---|
| Dệt khung đeo lưng | phụ nữ M'Nông, Mạ | sợi bông, nay chủ yếu sợi công nghiệp | váy, khố, chăn, khăn, địu | người lớn tuổi làm, một số làm để bán |
| Đan lát | đàn ông bon làng | mây, tre, lồ ô, giang | gùi, nong, mẹt, giỏ, ống | vẫn dùng gùi, nguyên liệu khó tìm |
| Thêu, vẽ sáp ong | phụ nữ Mông | vải, chỉ màu, chàm, sáp ong | váy, áo, thắt lưng, mũ trẻ | người lớn tuổi giữ, lớp trẻ ít làm |
Nghề rèn, làm ché, làm nỏ từng có ở các cộng đồng bản địa Tây Nguyên, nhưng không có ghi nhận rõ về việc còn làm ở vùng Tà Đùng nên bài không mô tả.
Vì sao nghề tay thu hẹp
Lý do thứ nhất là thời gian. Ở một xã sống bằng cà phê, hồ tiêu, sầu riêng, người lớn bận vườn gần như cả năm. Một chiếc gùi, một tấm chăn dệt mất nhiều ngày công, trong khi mua đồ công nghiệp chỉ mất vài phút. Nghề tay chỉ còn chỗ trong những tháng nông nhàn, những buổi tối.
Lý do thứ hai là nguyên liệu. Bông không còn trồng, chàm ít người trồng, mây rừng khó lấy vì rừng bị thu hẹp và chịu quy định bảo vệ. Lý do thứ ba là người học: lớp trẻ đi học, đi làm xa, ít người ngồi đủ lâu bên người già để học nghề.
Lý do thứ tư ít được nói tới là giá trị. Khi đồ tự làm không bán được, không được dùng trong đời sống hằng ngày, người làm mất động lực. Ngược lại, ở những nơi đồ thủ công được trân trọng, được mua với giá xứng đáng công sức, nghề thường giữ được lâu hơn.
Giữ nghề: những cách đang được làm ở Tây Nguyên
Ở nhiều địa phương Tây Nguyên, các lớp truyền dạy nghề dệt, đan lát do ngành văn hoá, hội phụ nữ hoặc các chương trình bảo tồn văn hoá tổ chức, mời nghệ nhân dạy cho lớp trẻ. Chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2021–2030 có một dự án riêng về bảo tồn, phát huy văn hoá truyền thống gắn với du lịch.
Một số nơi lập tổ hợp tác dệt, đan để làm hàng bán, kết hợp với điểm du lịch. Cách làm này giúp người làm nghề có thu nhập, nhưng cần giữ được hoa văn gốc và trả công xứng đáng. Ở vùng Tà Đùng, việc có lớp dạy nghề hay tổ hợp tác nào hay không cần hỏi ủy ban xã, hội phụ nữ xã.
Ở mức gia đình, cách giữ nghề hiệu quả nhất vẫn là trẻ con được ngồi cạnh bà, cạnh mẹ khi dệt, cạnh ông khi đan. Khi trong nhà còn có khung dệt, còn có người đan, nghề còn cơ hội.
Người ngoài quan tâm nghề tay: tôn trọng và góp sức đúng cách
Nhiều khách đến Tà Đùng muốn xem dệt vải, mua gùi, mua khăn thổ cẩm. Điều đầu tiên nên nhớ là khung dệt, chiếc gùi trong nhà là đồ dùng của gia đình, không phải hàng trưng bày. Muốn xem người dệt, hãy hỏi qua người quen hoặc trưởng bon, và chấp nhận câu trả lời.
Khi mua đồ thủ công, hãy hỏi người làm, hỏi thời gian làm, và trả giá vừa phải. Đồ dệt tay, đan tay mất nhiều công; trả giá quá thấp khiến người làm nản. Cũng nên phân biệt đồ dệt tay với vải in hoa văn công nghiệp bán ở chợ, hỏi thẳng là cách đơn giản nhất.
Người muốn góp sức giữ nghề lâu dài, như doanh nghiệp, câu lạc bộ, nhà thiết kế, nên làm qua xã và cộng đồng, ký kết rõ ràng, ghi nhận tên người làm và nguồn gốc hoa văn. Lấy hoa văn của một cộng đồng để in hàng loạt mà không hỏi, không ghi nguồn là cách làm không tôn trọng.
Hoa văn kể chuyện gì: đọc vải cho đúng chừng mực
Hoa văn trên vải dệt M'Nông, Mạ và trên váy thêu Mông thường được giải thích là mô phỏng thiên nhiên, đời sống: hình con đường, dòng suối, hạt lúa, con chim, hình người nắm tay. Những cách giải thích này phần nhiều do người trong cộng đồng kể lại và được các nhà nghiên cứu ghi nhận.
Tuy vậy, nhiều hoa văn có tên gọi và ý nghĩa khác nhau giữa các nhóm, các gia đình, và có những hoa văn người dệt chỉ biết là học từ mẹ mà không biết nghĩa. Người viết, người làm du lịch nên tránh gán nghĩa tuỳ tiện, hoặc dựng thành câu chuyện ly kỳ để bán hàng.
Cách đúng là hỏi người dệt hoa văn này gọi là gì, học từ ai, và ghi lại nguyên văn. Một kho ghi chép như vậy về hoa văn của các cộng đồng ở Tà Đùng sẽ là tư liệu quý cho chính cộng đồng và cho người nghiên cứu sau này.
Thổ cẩm trong lễ và trong đời thường: khi nào người ta mặc
Ở các bon vùng Tà Đùng hôm nay, trang phục dệt tay được mặc nhiều nhất trong ba dịp: lễ của gia đình, của bon như mừng lúa mới, cưới hỏi; các hội diễn văn hoá của xã, tỉnh; và ngày Tết. Trong những dịp ấy, người lớn tuổi mặc váy, khố, choàng tấm vải dệt; người trẻ thường mặc áo may sẵn có dải hoa văn thổ cẩm.
Trong đời thường, thổ cẩm còn xuất hiện ở những thứ nhỏ: tấm địu con, chiếc túi đeo, tấm chăn đắp mùa lạnh, tấm vải phủ ché rượu. Với người già, một tấm chăn dệt từ thời trẻ là kỷ vật, nhiều khi được giữ để dùng trong những nghi lễ quan trọng của đời người.
Học sinh đồng bào ở nhiều trường vùng Tây Nguyên được khuyến khích mặc trang phục dân tộc vào những ngày nhất định trong tuần hoặc dịp lễ của trường. Đó là một cách đưa thổ cẩm trở lại đời sống của lớp trẻ, dù trang phục ấy phần lớn là may công nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
Khung dệt đeo lưng khác khung dệt thường thế nào?
Khung dệt đeo lưng không có khung đứng cố định; một đầu buộc vào cột hoặc cây, đầu kia vòng qua lưng người dệt, người dệt dùng sức lưng để căng sợi. Khung gọn, dễ mang, nhưng khổ vải hẹp, nên chăn, váy thường ghép từ nhiều tấm.
Ở Tà Đùng còn người dệt thổ cẩm không?
Còn, chủ yếu là phụ nữ M'Nông, Mạ lớn tuổi trong các bon, dệt vào thời gian rảnh và cho các dịp lễ. Số người dệt và nơi dệt cụ thể chưa có thống kê công bố; muốn tìm hiểu, hãy hỏi trưởng bon hoặc hội phụ nữ xã.
Gùi của đồng bào làm bằng gì?
Gùi được đan từ nan mây, tre, lồ ô hoặc giang, chẻ và vót mỏng, phơi khô, có khi hun khói. Gùi lớn đan thưa để đựng nông sản, củi; gùi nhỏ đan mịn, có hoa văn để đi chơi, đi lễ. Đan gùi truyền thống là việc của đàn ông.
Vẽ sáp ong của người Mông làm như thế nào?
Người làm dùng bút đồng nhỏ chấm sáp ong nóng chảy vẽ hoa văn lên vải trắng, rồi nhuộm chàm. Phần có sáp không ăn màu; khi đun cho sáp tan, hoa văn trắng hiện trên nền xanh. Sau đó vải có thể được thêu thêm.
Làm sao phân biệt vải dệt tay và vải in hoa văn?
Vải dệt tay có mặt trái thấy rõ sợi ngang, sợi dọc đan vào nhau, hoa văn hơi không đều, khổ vải hẹp. Vải in thì hoa văn chỉ nằm ở bề mặt, mặt trái nhạt hoặc trắng, khổ rộng, đều tăm tắp. Hỏi thẳng người bán và người làm là cách chắc nhất.
Có lớp dạy dệt, đan cho người trẻ ở Tà Đùng không?
Một số địa phương Tây Nguyên có lớp truyền dạy nghề do ngành văn hoá, hội phụ nữ hoặc chương trình bảo tồn văn hoá tổ chức. Ở xã Tà Đùng có lớp hay không, tổ chức khi nào, cần hỏi ủy ban xã hoặc hội phụ nữ xã.