TaDung.vnTà Đùng
Văn hoá, lễ hội và ẩm thực

Văn hoá Tà Đùng có gì: những lớp văn hoá cùng sống trong một xã quanh hồ

Văn hoá xã Tà Đùng là nhiều lớp chồng lên nhau: văn hoá bản địa M'Nông, Mạ; nếp phía Bắc của người Mông, Dao, Tày, Nùng; nếp quê người Kinh và văn hoá mới quanh hồ.

Evening yard of a highland village house, a small fire burning, several people sitting around it seen from behind, bronze gongs hanging on a wooden post, deep blue dusk

Văn hoá xã Tà Đùng (Lâm Đồng, gồm Đắk Som và Đắk R'Măng cũ) là bốn lớp văn hoá cùng sống trong một xã: lớp bản địa của người M'Nông, người Mạ với cồng chiêng, rượu cần, lễ theo mùa rẫy; lớp văn hoá phía Bắc mà người Mông, Dao, Tày, Nùng mang vào; lớp nếp quê của người Kinh từ nhiều miền; và một lớp mới hình thành quanh hồ thủy điện Đồng Nai 3.

Không có một “văn hoá Tà Đùng” thuần nhất, mà là một lịch ngày vui dày đặc, nơi Tết Mông cuối năm, giỗ họ của người Kinh, lễ mừng lúa mới của bon, hát then của người Tày có thể diễn ra trong cùng một mùa. Bài này phác bức tranh ấy theo kiểu địa chí, để người đọc biết có những gì, ở đâu, khi nào, trước khi đọc các bài sâu hơn trong cùng chuyên mục.

Lớp văn hoá bản địa: chiêng, ché, bếp lửa và mùa rẫy

Với người M'Nông, người Mạ, văn hoá truyền thống xoay quanh rẫy và rừng. Một năm được chia theo mùa rẫy: phát, đốt, tỉa, làm cỏ, thu hoạch; mỗi chặng có những nghi lễ của gia đình, của bon. Lễ lớn nhất thường là sau thu hoạch, khi lúa mới đã về kho, cả bon mừng mùa bằng chiêng, rượu cần và bữa ăn chung.

Ba thứ đồ vật gắn với văn hoá bản địa còn thấy được hôm nay là bộ chiêng, ché rượu và bếp lửa. Bộ chiêng là tài sản quý của gia đình, của dòng họ, chỉ đánh vào dịp lễ. Ché dùng ủ rượu cần, có những chiếc được coi là gia bảo. Bếp lửa là nơi người già kể chuyện, nơi giữ hạt giống, nơi treo thịt, cá gác bếp.

Phần lớn những nét này nay nằm trong gia đình và trong các dịp lễ, không còn là đời sống hằng ngày như trước. Rẫy lúa đã nhường chỗ cho vườn cà phê, nên lịch lễ cũng thưa đi, có nơi gộp lại. Nhưng tiếng chiêng vẫn vang lên trong những ngày vui lớn của bon.

Lớp văn hoá phía Bắc: khèn, then, váy thêu giữa cao nguyên

Đồng bào Mông, Dao, Tày, Nùng vào vùng Tà Đùng từ cuối thế kỷ 20 mang theo văn hoá của núi rừng phía Bắc. Người Mông giữ Tết Mông, tiếng khèn, đàn môi, trò ném pao, váy xoè thêu và vẽ sáp ong. Người Tày, Nùng giữ hát then với đàn tính, các món xôi màu, bánh gio. Người Dao giữ trang phục thêu, nghi lễ trong gia đình.

Ở đất mới, những nét văn hoá này vừa được giữ vừa biến đổi. Lịch Tết của người Mông có nơi điều chỉnh để không trùng mùa hái cà phê. Vải lanh khó trồng nên trang phục dùng nhiều vải mua sẵn. Món ăn quê Bắc phải thay nguyên liệu bằng những gì vùng mới có.

Điều đáng chú ý là trong các thôn ở theo họ, theo bản cũ, văn hoá phía Bắc được giữ khá đậm. Một buổi chợ, một đám cưới người Mông ở Tà Đùng có thể khiến người ta tưởng đang ở vùng cao phía Bắc, nếu không có những rặng cà phê xung quanh.

Lớp nếp quê người Kinh: giỗ chạp, Tết, hội đồng hương

Người Kinh ở Tà Đùng đến từ nhiều tỉnh, mỗi nhà giữ một nếp quê. Ngày giỗ ông bà là dịp lớn nhất trong năm của nhiều gia đình, họ hàng ở rải rác các xã tụ về. Tết Nguyên đán là lễ chung của cả xã, nhưng mỗi nhà ăn Tết theo kiểu quê mình: bánh chưng hay bánh tét, dưa hành hay củ kiệu, cúng giao thừa trong nhà hay ngoài sân.

Bên cạnh đó là những sinh hoạt cộng đồng do nhà nước tổ chức: ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư vào khoảng tháng 11, các giải thể thao, hội diễn văn nghệ của xã. Người Kinh thường là lực lượng tổ chức chính, nhưng ngày càng nhiều hoạt động có đủ các dân tộc cùng tham gia.

Một nét ít ai để ý là văn hoá chợ của người Kinh: tiệm tạp hoá, quán cà phê, quán ăn ở trung tâm xã là nơi trao đổi tin tức, bàn chuyện làm ăn, giá cả. Đó cũng là một phần đời sống văn hoá của xã.

Lớp văn hoá mới quanh hồ

Từ khi hồ thủy điện Đồng Nai 3 tích nước và về sau thành điểm đến được biết đến rộng rãi, một lớp văn hoá mới hình thành: nghề thuyền, nghề cá lồng với những thói quen riêng; nơi lưu trú, quán ăn phục vụ khách; những buổi đốt lửa trại, ngắm sương sớm của người từ thành phố lên. Lớp này còn mỏng và tập trung ở vài khu ven hồ.

Văn hoá mới gặp văn hoá cũ ở nhiều điểm: khách muốn nghe chiêng, uống rượu cần, xem dệt vải; dân địa phương có thêm thu nhập nhưng cũng đứng trước câu hỏi giữ cái gì cho mình, đem cái gì ra cho khách. Kinh nghiệm ở nhiều vùng Tây Nguyên cho thấy khi văn hoá bị biến thành tiết mục bán vé, nó mất dần ý nghĩa với chính cộng đồng.

Góc nhìn của bài này là địa chí, nên chỉ ghi nhận: lớp văn hoá mới đang hình thành và cách nó sống chung với các lớp cũ sẽ quyết định diện mạo văn hoá của Tà Đùng trong những năm tới.

Một năm ngày vui ở Tà Đùng theo mùa

Bảng dưới gom các dịp lễ, ngày vui thường gặp theo mùa. Thời điểm ghi theo mùa và tháng âm lịch tương đối, vì mỗi cộng đồng, mỗi gia đình có thể chọn ngày khác.

MùaDịpCộng đồngNét chính
Cuối năm âm lịchTết Môngngười Môngcúng tổ tiên, khèn, ném pao, quần áo mới
Tháng GiêngTết Nguyên đáncả xã, đậm nhất ở người Kinh, Tày, Nùngbánh chưng, bánh tét, thăm họ hàng
Sau thu hoạch rẫylễ mừng lúa mớingười M'Nông, người Mạchiêng, rượu cần, ăn chung trong bon
Quanh nămgiỗ chạp, cưới hỏimọi cộng đồngtụ họp họ hàng, mâm cỗ
Khoảng tháng 11 dương lịchngày hội đại đoàn kết ở khu dân cưcác thôn, bonvăn nghệ, thể thao, ăn chung
Mùa khôhội diễn, ngày hội văn hoá của xã, tỉnh nếu cónhiều dân tộccồng chiêng, trang phục, trò chơi dân gian

Lịch hội diễn, ngày hội cấp xã, tỉnh thay đổi theo từng năm; muốn biết năm nay có gì, hãy hỏi ủy ban xã Tà Đùng hoặc theo thông báo của tỉnh Lâm Đồng.

Di sản văn hoá trong vùng: những gì đã được ghi nhận

Không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên, trải trên các tỉnh Tây Nguyên trong đó có vùng Đắk Nông cũ và Lâm Đồng cũ, được UNESCO ghi danh là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại năm 2005. Cồng chiêng của người M'Nông, người Mạ quanh Tà Đùng là một phần của không gian ấy.

Sử thi M'Nông, kho truyện kể dài bằng thơ của người M'Nông, đã được các nhà nghiên cứu sưu tầm, dịch và xuất bản nhiều tập, và được ghi nhận là di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. Những người còn thuộc sử thi ngày càng ít, phần lớn là người cao tuổi.

Ở cấp xã, di sản không nằm trong bảo tàng mà nằm trong các gia đình: bộ chiêng, ché cổ, khung dệt, những bài hát ru, truyện kể. Việc kiểm kê, ghi chép những thứ này ở vùng Tà Đùng chưa có tài liệu riêng được công bố rộng rãi, đây là khoảng trống mà những người quan tâm có thể góp sức cùng cộng đồng.

Tìm hiểu văn hoá Tà Đùng cho đúng: nên bắt đầu từ đâu

Người muốn tìm hiểu văn hoá Tà Đùng, dù là người con xa quê, người mới lên làm việc hay người viết, nên bắt đầu bằng việc phân biệt các cộng đồng. Đừng gộp tất cả thành “văn hoá Tây Nguyên” hay “văn hoá dân tộc”. Hỏi xem thôn mình đến là của ai, họ có những dịp lễ nào, ai là người hiểu rõ nhất.

Bước thứ hai là đến với tư cách người được mời, không phải người xem. Lễ của bon, Tết của người Mông, đám cưới, đám giỗ là việc của gia đình, cộng đồng. Được mời thì đến, ăn mặc kín đáo, làm theo chủ nhà; muốn chụp ảnh, quay phim thì hỏi trước.

Bước thứ ba dành cho người muốn hiểu sâu: đọc sách dân tộc học, sách sưu tầm sử thi, xem hiện vật ở bảo tàng tỉnh, và quan trọng nhất là ghi chép lời người già. Mỗi người già ra đi mang theo một phần văn hoá chưa ai kịp ghi lại.

Trò chơi dân gian và thể thao: nơi các cộng đồng chơi chung

Mỗi cộng đồng ở Tà Đùng mang theo trò chơi của mình. Người Mông có ném pao, đánh quay, đánh cù trong dịp Tết; người M'Nông, người Mạ có các trò như đẩy gậy, kéo co, bắn nỏ trong lễ hội của bon và các hội thi; người Kinh có kéo co, đập niêu, chơi cờ trong các dịp lễ của khu dân cư. Trẻ con các dân tộc thì chơi chung những trò không cần ai dạy: đá bóng, nhảy dây, bắn bi.

Thể thao phong trào là nơi các cộng đồng gặp nhau nhiều nhất. Bóng chuyền là môn phổ biến ở các thôn vùng Tây Nguyên, nhiều thôn tự làm sân đất, chiều tối sau giờ làm vườn là lúc thanh niên ra sân. Các giải bóng chuyền, bóng đá của xã thường có đội của nhiều thôn, nhiều dân tộc.

Những trò chơi truyền thống như bắn nỏ, đẩy gậy, ném pao nay chủ yếu xuất hiện trong hội thi của xã, tỉnh. Giữ được chúng phụ thuộc nhiều vào việc các hội thi còn được tổ chức đều đặn và có người lớn tuổi dạy lại cho lớp trẻ.

Người giữ văn hoá: già làng, nghệ nhân và người cao tuổi

Văn hoá truyền thống ở một xã như Tà Đùng sống được là nhờ một số ít người: già làng thuộc luật tục và lễ nghi, người biết đánh chiêng và chỉnh chiêng, phụ nữ còn ngồi khung dệt, người thổi khèn, người hát then, người nhớ truyện kể. Phần lớn họ là người cao tuổi.

Nhà nước có danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú cho những người có công giữ gìn di sản văn hoá phi vật thể, xét theo quy định của Luật Di sản văn hoá. Ở cấp tỉnh có các hình thức ghi nhận khác. Danh sách nghệ nhân ở vùng Tà Đùng cần tra từ cơ quan văn hoá của tỉnh, bài này không nêu tên người cụ thể.

Điều đáng lo là khoảng cách thế hệ: người già còn biết thì ít, người trẻ bận làm vườn, đi làm xa. Các lớp truyền dạy chiêng, dệt vải, khèn do xã hoặc tỉnh mở, khi có, thường là cơ hội cuối để chuyển nghề sang thế hệ sau. Người ngoài muốn góp sức nên hỗ trợ những lớp như vậy qua xã và cộng đồng, thay vì tự đứng ra mời nghệ nhân biểu diễn.

Câu hỏi thường gặp

Tà Đùng có lễ hội lớn nào không?

Tà Đùng không có một lễ hội lớn cố định kiểu lễ hội làng ở đồng bằng. Đời sống lễ hội nằm ở các dịp của từng cộng đồng: lễ mừng lúa mới của bon M'Nông, Mạ, Tết Mông, Tết Nguyên đán, cùng các ngày hội, hội diễn do xã, tỉnh tổ chức tuỳ năm.

Cồng chiêng ở Tà Đùng có thuộc di sản UNESCO không?

Không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh năm 2005, bao gồm cồng chiêng của các dân tộc bản địa ở các tỉnh Tây Nguyên, trong đó có người M'Nông, người Mạ ở vùng Đắk Nông cũ và Lâm Đồng cũ. Cồng chiêng quanh Tà Đùng nằm trong không gian ấy.

Khách có xem được lễ của đồng bào ở Tà Đùng không?

Lễ của bon, của gia đình không phải sự kiện bán vé. Khách chỉ nên đến khi được mời hoặc khi đã hỏi qua người quen, trưởng bon. Những dịp mở cho mọi người là các ngày hội, hội diễn do xã, tỉnh tổ chức.

Văn hoá người Mông ở Tà Đùng có khác ở phía Bắc không?

Về cốt lõi thì giống: dòng họ, Tết Mông, khèn, trang phục thêu. Khác ở chỗ phải thích nghi với đất mới: lịch lễ có thể điều chỉnh theo mùa cà phê, vải lanh ít, nguyên liệu món ăn thay đổi. Mức độ giữ nếp cũ khác nhau giữa các thôn.

Sử thi M'Nông còn ai kể ở Tà Đùng không?

Chưa có tài liệu riêng công bố về người kể sử thi ở xã Tà Đùng. Nhìn chung người còn thuộc sử thi M'Nông ngày càng ít và phần lớn là người cao tuổi. Muốn biết trong xã còn ai, cách tốt nhất là hỏi già làng các bon M'Nông.

Văn hoá Tà Đùng có bị mai một vì du lịch không?

Du lịch quanh hồ mới phát triển, tập trung ở vài khu ven hồ, nên ảnh hưởng chưa lan rộng. Nguy cơ thật sự lớn hơn nằm ở việc người trẻ ít dùng tiếng mẹ đẻ và các nghi lễ thưa đi khi rẫy lúa không còn. Du lịch có thể giúp hoặc hại tuỳ cách làm.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0918 83 22 83